Trang Nha - Home

Truyen Thanh - Radio

Truyen Hinh - TV

Thanh Kinh - Bible

Doc - Read

So Sanh - Comparison

Quan Trong - Importance

Doi Song - Your Life

Tra Loi Thac Mac - Q & A

Than Hoc - Theology

Dang Tao Hoa -The Creator

Chua Gie-su La Ai?

Chua Tinh Yeu -Loving God

Phuc Am Doi Doi

28 Tin Dieu - 28 Beliefs

60 Du Kien Sabat

Ai Doi Ngay Thanh?

Thac Mac Ve Sabat

Tai Lieu - Publications

Hoi Thanh - Church US

Loma Linda Church

Orange County Church

San Diego Church

Tu Gia - Housechurch VN

Tuyen Ngon - Declarations

Tu Gia - Housechurches VN

Nhac Tu Gia - Music

Cuu Tro - Humanitarian

Lanh Dao - Leadership

Thanh Nhac - Music

Thong Tin - News

Health (English)

Lien Lac - Contact

Gioi Thieu - ABout Us

Su Mang-Mission

Muc Tieu-Goal

To Chuc-Organization

Lich Su-History

Uy Thac-Commission

An Binh Hanh Phuc (Peace & Happiness Ministry)

Phuc Am Doi Doi Cho Nguoi Viet ( Everlasting Gospel To The Vietnamese People)

“LẼ THẬT

SẼ GIẢI PHÓNG CÁC NGƯƠI”

 

Mục Sư Dương Quốc Tùng

 

I. TƯỚNG WAINWRIGHT VÀ VAI TR̉ TÙ BINH

 

Tướng Jonathan Wainwright là vị tướng Hoa Kỳ duy nhất bị bắt làm tù binh (POW) trong thời Đệ II Thế Chiến. Tướng Wainwright được chỉ định ở lại để tử thủ tại Corregidor, thuộc Philippine, khi Đại Tướng Douglas MacArthur, chỉ huy trưởng lực lượng Hoa Kỳ tại Thái B́nh Dương, bị t́nh thế bắt buộc phải rời khỏi Corregidor để chạy đến Australia hầu tái phối trí lực lượng đồng minh để phản công quân đội Nhật Bản. Mệnh lệnh duy nhất của Tướng MacArthur cho tướng Wainwright là: Không bao giờ đầu hàng. Chiến đấu cho đến cuối cùng.

 

Tướng Wainwright cố gắng để làm theo mệnh lệnh đó. Tuy vậy, khi nh́n thấy binh sĩ của ḿnh bị ngă gục hàng hàng lớp lớp dưới sự tấn công một cách có hệ thống và tàn bạo của Nhật, ông quyết định đi ngược lại mệnh lệnh đó và đầu hàng.

 

Ông cùng tàn quân bị bắt làm tù binh và giam giữ trong các trại tù rải rác ở Á Châu. Hàng ngàn người chết trong khi được chuyển đến những trại tù nầy. Wainwright bị nhốt ở Mông Cổ. Người Nhật coi ông như là một chiến lợi phẩm vô giá, v́ ông là vị Tướng Hoa Kỳ duy nhất bị bắt làm tù binh.

 

Trong những năm bị bắt làm tù binh, Wainwright đau khổ v́ mặc cảm tội lỗi đă phụ ḷng tin của cấp chỉ huy của ḿnh. Trong khi thấy thân thể của ông càng ngày càng tàn tạ và phải nhờ gậy chống để bước đi, th́ ông lại thấy tinh thần của ḿnh càng sụp đổ hơn nữa. Ông thấy ḿnh là một vật vô dụng sau khi để cho Corregidor bị thất thủ.

Trong lúc đó, Đại Tướng MacArthur dẫn quân đội đồng minh đến sự chiến thắng. Từng hải đảo của Thái B́nh Dương rơi vào tay quân đội đồng minh, quân đội Nhật bị đẩy lui khắp nơi. Cuối cùng Tướng MacArthur chiếm đóng Nhật Bản, và đặt chân đến thủ đô Tokyo. Nước Nhật kư kết đầu hàng vô điều kiện. Các tù binh được thả tự do khắp nơi trên Châu Á.

 

V́ Tướng Wainwright bị giam giữ tại Mongolia, quá xa thủ đô Tokyo, cho nên vị sĩ quan chỉ huy người Nhật giữ kín tin Nhật đầu hàng không cho Tướng Wainwright biết. V́ thế, Tướng Wainwright lúc nào cũng nghĩ rằng ḿnh là tù binh và sống như là một tù nhân.

 

Bạn có thể tưởng tượng mỗi ngày người sĩ quan chỉ huy trại tù nh́n Tướng Wainwright sau khi Nhật Bản thất trận, người sĩ quan nầy biết rằng chẳng bao lâu vai tṛ của hai người sẽ thay đổi, người chỉ huy sẽ trở thành tù nhân run rẩy đứng trước một tù nhân là người chiến thắng mà chưa biết. Mỗi lần thấy tướng Wainwright, vị chỉ huy người Nhật sẽ cảm thấy áy náy, e dè, sợ sệt. Một người với đầy đủ súng ống, chỉ huy trưởng của một trại tù, với binh sĩ đầy đủ sẵn sàng tuân lệnh ḿnh, mà lại sợ hăi trước một số tù nhân bịnh tật yếu đuối. Tại sao? V́ vị sĩ quan Nhật nắm quyền bởi một sự lừa dối sự thật. Tôi tưởng tượng mỗi ngày vị sĩ quan chỉ huy tự hỏi, “Không biết ông ta nghe được tin Nhật Bản thất trận chưa?”

 

Điều duy nhất khiến cho vị sĩ quan Nhật tiếp tục nắm quyền trong sự lừa dối nầy là: Tướng Wainwright không biết được sự thật. Ông đă được giải thoát mà ông không hề biết. Đáng lư ông phải nằm trong vai tṛ người chiến thắng mà ông không hề biết.

Hơn thế nữa, ông không hề biết rằng Đại Tướng MacArthur đă ra lệnh cho tất cả các tù binh đồng minh phải đứng lên nắm lấy quyền chỉ huy trong các trại tù binh mà ḿnh đang bị nhốt, tước khí giới của quân thù và trở thành kẻ chiến thắng.

 

V́ Tướng Wainwright không biết được sự thật cho nên ông tiếp tục vâng phục kẻ bắt ḿnh, dù rằng kẻ bắt ông không c̣n quyền đó nữa.

 

II. VUA PHARAÔN VÀ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

 

Cách đây hơn 3000 năm, một t́nh trạng y hệt như vậy xảy ra tại Ai Cập. Lúc bấy giờ, vua của Ai Cập gọi là Pharaôn là người có uy quyền cao nhất trên thế giới. Nhà vua nắm trong tay một quân đội thiện chiến nhất trên thế giới. Với những đoàn kỵ binh và cỗ xe ngựa bách chiến bách thắng. Đoàn quân nầy đă đánh bại tất cả quân thù cách xa hàng ngàn dặm để bảo vệ đế quốc Ai Cập.

 

Uy quyền của Pharaôn là uy quyền tuyệt đối. Nhà vua không có quốc hội để ngăn chận bớt quyền hành của ḿnh. Vua cũng chính là một thượng đế để cả đế quốc thờ lạy. Lời vua là luật pháp. Không có Tối Cao Pháp Viện để xét xử. Nhà vua chính là ṭa án. Vua ra luật, vua xét xử, vua quyết định mọi sự, từ lănh vực xă hội đến lănh vực tâm linh của con người.

 

Nhưng trong Kinh Thánh ghi lại một cảm giác sợ hăi khiến nhà vua phải mất ngủ nhiều đêm. Nhà vua sợ một sự kiện mà đoàn quân bách chiến bách của ḿnh cũng không thể giúp đỡ ǵ được. Cả sự giàu có sung túc của đế quốc Ai Cập cũng không thể nào cung ứng được một lối thoát. Uy quyền của nhà vua cũng không đủ để đối phó với nan đề nầy.

 

Cuối cùng nhà vua phải tiết lộ với hội đồng cố vấn của ḿnh rằng, “Nầy, dân Y-sơ-ra-ên đông và mạnh hơn chúng ta. Hè! Ta hăy dùng chước khôn ngoan đối cùng họ, kẻo họ thêm nhiều lên, một mai nếu có cơn chinh chiến xảy đến, họ sẽ hiệp cùng quân nghịch đánh lại ta, và ra khỏi xứ chăng.” (Xuất Êdíptô Kư 1:9,10)

 

Dân Y-sơ-ra-ên là dân như thế nào mà Pharaôn với quyền uy tuyệt đỉnh phải run sợ? Có phải họ có quân đội thiện chiến và tân kỳ hơn quân đội Ai Cập chăng? Có phải họ có thế lực kinh tế hùng mạnh chăng? Họ có những vũ khí hiệu quả hơn những đoàn kỵ binh và chiến xa của Pharaôn chăng?

 

Không, họ chỉ là những người chăn chiên. Vũ khí tối tân nhất và duy nhất mà họ có là những cây gậy chăn chiên. Theo tiêu chuẩn của loài người họ là những con người yếu đuối nhất, nhưng cũng giống như viên sĩ quan chỉ huy người Nhật tại Mongolia, Pharaôn không sợ con người mà sợ một sự thật, nếu sự thật đó bị khám phá, sẽ làm cho những con người tầm thường kia trở thành một sức mạnh vô địch.

 

Hăy đọc kỹ những lời Vua Pharaôn nói, “Ta hăy dùng chước khôn ngoan đối cùng họ.” Đây không phải là ngôn ngữ của một người nắm uy quyền sanh sát tuyệt đối, nhưng bày tỏ một sự e ngại khi nh́n kẻ đối đầu của ḿnh. Điều nhà vua lo sợ là điều mà bất cứ một tướng lănh nào khi đối đầu với kẻ thù có sức mạnh tương đương hay hơn ḿnh thường lo sợ. “Một mai nếu có cơn chinh chiến xảy đến, họ sẽ hiệp cùng quân nghịch đánh lại ta, và ra khỏi xứ chăng.” (Xuất Êdíptô 1:10)

 

Pharaôn biết sở dĩ nhà vua nắm quyền trên dân Y-sơ-ra-ên là bởi sự lừa dối. Không ai sợ sự thật bằng kẻ nói dối, làm dối.

 

III. SATAN VÀ HỘI THÁNH CỦA CHÚA NGÀY NAY

 

Sự lo lợ lớn nhất của Satan ngày hôm nay cũng giống y hệt như sự lo sợ của Pharaôn hay của viên sĩ quan Nhật trên. Satan sợ rằng hội thánh của Chúa một ngày nào đó sẽ khám phá ra lẽ thật trong Kinh Thánh, th́ hội thánh sẽ vùng lên. Satan sợ rằng hội thánh sẽ nhận thức ra uy quyền thật sự của ḿnh, uy quyền chiến thắng trên Satan và phản công quật khởi chống lại Satan. Satan sợ mỗi tín hữu thật sự ư thức được Đấng ở trong họ là “lớn hơn kẻ ở trong thế gian.” (I Giăng 4:4). Satan sợ mỗi tín hữu thật sự ư thức được lẽ thật trong Kinh Thánh th́ họ sẽ được giải phóng khỏi sự kềm kẹp của nó (Giăng 8:32)

 

Satan lo sợ hội thánh sẽ nhận thức rằng có một cuộc chiến đang diễn ra, và hội thánh sẽ hiệp với quyền lực thiên đàng để chống trả Satan. Ngoài Đức Chúa Trời Ba Ngôi mà Satan e ngại nhất, c̣n có các thiên sứ của thiên đàng, hàng vạn vạn không thể đếm được (Phục Truyền Luật Lệ Kư 33:2; Khải Huyền 5:11).

 

Giống như nỗi lo sợ của vị sĩ quan chỉ huy người Nhật và của vua Pharaôn, Satan lo sợ một ngày kia hội thánh sẽ vùng lên, thoát ra khỏi ách tù đày nô lệ, sẽ đứng lên nắm lấy quyền hành của kẻ chiến thắng, th́ đế quốc của Satan sẽ sụp đổ và sụp đổ c̣n nhanh hơn đế quốc cộng sản thế giới sụp đổ.

 

V́ thế, Satan t́m đủ mọi cách để che dấu lẽ thật khỏi hội thánh của Đức Chúa Trời. Hễ hội thánh đi trong sự lừa dối, lẽ dối bao lâu, th́ Satan được cầm quyền bấy lâu. Hễ hội thánh khám phá ra lẽ thật, hội thánh sẽ vùng lên, nắm quyền thống trị th́ vương quốc của Satan sẽ bị đẩy lui. Satan và đoàn quân của nó sẽ bị giam cầm.

 

Satan sẽ đưa ra những sự giả dối, sẽ dùng các giáo sư giả, sẽ dùng tiên tri giả, sẽ gởi những nhà lănh đạo giả dối, những mục sư truyền đạo giả dối để tiếp tục ru ngủ con người trong lẽ giả, sẽ làm những phép lạ để lừa dối các hội thánh, để họ tiếp tục không thấy được sự thật.

 

“Nào có lạ ǵ, chính quỉ Satan mạo làm thiên sứ sáng láng. Vậy th́ những kẻ giúp việc nó (người giảng đạo giả) mạo làm kẻ giúp việc công b́nh cũng chẳng lạ ǵ; nhưng sự cuối cùng họ sẽ y theo việc làm.” (II Côrinhtô 11:14,15)

 

“Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lư của quỉ dữ, bị lầm lạc bởi sự giả h́nh của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đă ĺ.” (I Timôthê 4:1,2)

 

“Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Ḱa, Đấng Christ ở đây, hay là: Ở đó, th́ đừng tin. V́ nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được th́ họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn. Nầy, ta đă bảo trước cho các ngươi. Vậy nếu người ta nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở trong đồng vắng, th́ đừng đi đến; nầy, Ngài ở trong nhà, th́ đừng tin.” (Mathiơ 24:23-26)

 

IV. ĐIỀU HỘI THÁNH CẦN LÀM

 

Rồi một ngày kia, một phi cơ đồng minh hạ cánh gần trại tù nơi Tướng Wainwright bị giam giữ. Một sĩ quan Hoa kỳ bước đến bên cạnh hàng rào của trại, chào Tướng Wainwright và nói, “Thưa Tướng Wainwright, Nhật Bản đă đầu hàng.”

 

Nắm được sự thật đó, Tướng Wainwright nhảy cà nhắc vào văn pḥng của viên sĩ quan chỉ huy Nhật. Mở tung cánh cửa ra, không cần phải lên giọng, Tướng Wainwright tuyên bố, “Chỉ huy trưởng của chúng tôi đă đánh bại chỉ huy trưởng của anh. Bây giờ tôi là người chỉ huy tại đây. Anh phải đầu hàng.”

 

Không cần tốn một viên đạn nào, một tù nhân bị suy yếu bởi bịnh tật bởi thiếu ăn đă chiếm lấy trại tù từ một đoàn quân đầy đủ lương thực và vũ khí.

 

Tại sao Tướng Wainwright có thể thực hiện được điều nầy? V́ ông đă biết được lẽ thật và lẽ thật giải thoát ông. Ông cũng biết dùng uy quyền để kiểm soát uy quyền. Những ǵ viên sĩ quan chỉ huy Nhật lo sợ cuối cùng đă đến. Người tù binh đă nhận ra rằng ḿnh là kẻ chiến thắng và quyết định rời khỏi thân phận của một người tù binh.

 

Trở lại với t́nh trạng của dân Y-sơ-ra-ên, khi bị đẩy vào lối cùng, họ khám phá quyền năng của lời cầu nguyện, “Sau cách lâu, vua xứ Ê-díp-tô băng; dân Y-sơ-ra-ên than thở kêu van v́ phải phục dịch khổ sở; tiếng kêu van lên thấu Đức Chúa Trời. Ngài nghe tiếng than thở chúng, nhớ đến sự giao ước ḿnh kết lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Đức Chúa Trời đoái lại dân Y-sơ-ra-ên, nhận biết cảnh ngộ của chúng.” (Xuất Êdíptô Kư 2:23-25). Sau đó Chúa gởi tôi tớ của Ngài là Ông Môi-se đến để giải phóng dân sự ra khỏi xứ nô lệ, để biết được lẽ thật của Chúa, mà không có một dân tộc nào trên thế giới được ơn phước nầy.

 

Lời cầu nguyện biến sự lừa dối, thống trị và tàn phá thành một sự giải thoát đến từ Đức Chúa Trời. Uy quyền của vua Pharaôn bị phá vỡ, và dân Y-sơ-ra-ên được giải thoát ra đi tự do. Bởi lời cầu nguyện đó mà có 38 chương sau của Xuất Êdíptô Kư và từ đó quốc gia Do Thái được thành lập và Đấng Cứu Thế được sanh ra đời.

 

Hội thánh ngày hôm nay cần phải làm ǵ để lấy lại thế chiến thắng của ḿnh? Hội thánh cần phải làm ǵ để thoát ra khỏi cảnh tự ḿnh đặt ḿnh trong thế nô lệ, bị kềm tỏa?

 

Thứ nhất, hội thánh cần phải nhận thức t́nh trạng thật sự của ḿnh, một t́nh trạng yếu đuối trước tội lỗi, trước quyền lực của sự tối tăm.

 

Thứ nh́, hội thánh cần phải hạ ḿnh ăn năn xưng tội với Chúa. Chúng ta đă làm hổ nhục danh Chúa. Chúng ta là những đầy tớ bất trung. Chúng ta yêu mến vật chất và thêă gian hơn là yêu mến Chúa và Lời của Ngài. Chúng ta nói ḿnh thờ phượng Chúa mà chỉ chạy để đem vinh hiển cho con người. Chúng ta hănh diện rằng ḿnh tin Chúa mà lại từ bỏ Lẽ thật của Chúa. Chúng ta tự cho rằng ḿnh biết Lẽ Thật, mà không sống trong Lẽ Thật. Có lúc chúng ta tự hănh diện hay tự an ủi rằng chúng ta đến nhà thờ khoảng một hay hai giờ trong ngày thứ bảy rồi chúng ta bào chữa để phạm tất cả mọi điều răn dạy khác của Chúa như là xử dụng ngôn ngữ bừa băi vô trách nhiệm, tham lam, gian dâm, bất hiếu,...

 

Thứ ba, hội thánh cần phải cầu nguyện, kêu cầu sự trợ giúp của Chúa.

 

Thứ tư, hội thánh cần phải quay về học hỏi Kinh Thánh, t́m cầu ư muốn hay lẽ thật của Chúa cho dân sự của Ngài.

 

Đức Chúa Giê-su phán với Hội Thánh Lao-đi-xê, hội thánh trong thời kỳ cuối cùng của lịch sử nhân loại rằng, “Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước ǵ ngươi lạnh hoặc nóng th́ hay! Vậy, v́ ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng ḿnh khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù, và lơa lồ. Ta khuyên ngươi hăy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được. Phàm những kẻ ta yêu th́ ta quở trách sửa phạt; vậy hăy có ḷng sốt sắng, và ăn năn đi. Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gơ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, th́ ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.” (Khải Huyền 3:15-20)

 

Những lời nầy cho chúng ta biết những điều sau đây:

(1)   Hội thánh không biết t́nh trạng thật sự của ḿnh

(2)   Hội thánh phải hạ ḿnh t́m cầu những ǵ đến từ Chúa, không phải từ loài người

(3)   Hội thánh phải ăn năn và có ḷng sốt sắng trở lại

(4)   Hội Thánh phải biết lắng nghe lời Chúa, và sống với Chúa

 

V. QUYỀN NĂNG CỦA LỜI CẦU NGUYỆN

 

Cầu nguyện không phải chỉ tŕnh lên Chúa một bảng liệt kê những nhu cầu trong đời sống, và hy vọng rằng Chúa sẽ đáp lời.

 

Cầu nguyện, theo như được xử dụng bởi hội thánh đầu tiên, được chép lại trong Sách Công Vụ, bao gồm nhiều lănh vực, nhiều quyền lực. Cầu nguyện mà hội thánh đầu tiên thực hiện là một cuộc chiến với Satan với quyền lực của sự tối tăm, là hiệp với quyền năng của Đức Chúa Trời Ba Ngôi, tất cả thiên sứ, toàn thể hội thánh để tranh đấu cho sự cứu rỗi của linh hồn con người.

 

“V́ chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy. ... Hăy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hăy dùng sự bền đỗ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ. Cũng hăy v́ tôi mà cầu nguyện, để khi tôi mở miệng ra, Chúa ban cho tôi tự do mọi bề, bày tỏ lẽ mầu nhiệm của đạo Tin lành, mà tôi v́ đạo ấy làm sứ giả ở trong ṿng xiềng xích, hầu cho tôi nói cách dạn dĩ như tôi phải nói.” (Êphêsô 6:12,18-20)

 

“Vậy, hỡi anh em, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, và nhờ sự yêu thương sanh bởi Đức Thánh Linh, tôi khuyên anh em phải cùng tôi chiến đấu trong những lời cầu nguyện mà anh em v́ tôi tŕnh cùng Đức Chúa Trời, hầu để tôi được thoát khỏi những người chẳng tin trong xứ Giu-đê, và của làm phước mà tôi đem qua thành Giê-ru-sa-lem sẽ được các thánh đồ vui ḷng nhậm lấy.” (Rôma 15:30)

“Vả, tôi muốn anh em biết dường nào tôi hết sức chiến tranh cho anh em, cho những người ở Lao-đi-xê, và cho những kẻ không thấy mặt tôi về phần xác... Ê-pháp-ra, người hàng xứ với anh em, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ, có lời chào anh em; người v́ anh em chiến đấu không thôi trong khi cầu nguyện, để anh em trở nên toàn vẹn và trọn niềm vâng phục mọi ư muốn của Đức Chúa Trời.” (Côlôse 2:1;4:12)

 

Khi hội thánh đầu tiên cầu nguyện, đất bị rúng động. “Khi đă cầu nguyện, th́ nơi nhóm lại rúng động; ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ.” (Công Vụ 4:23-31)

 

“Lối nửa đêm, Phao-lô và Si-la đương cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe. Th́nh ĺnh, có cơn động đất rất lớn, đến nỗi nền ngục rúng động; cùng một lúc, các cửa mở ra, xiềng tù phạm thảy đều tháo cả.” (Công Vụ 16:25,26)

 

Sự cầu nguyện mà chúng ta kinh nghiệm ngày hôm nay khác với sự cầu nguyện mà hội thánh đầu tiên kinh nghiệm, giống như bơi trong bồn tắm và bơi ngoài đại đương.

Bơi trong bồn tắm th́ bạn bơi được bao lâu? Nếu bạn duỗi chân ra, th́ đầu trồi lên. Nếu bạn ngụp đầu vô nước, th́ hai đầu gối đưa lên khỏi mặt nước. Nếu bạn dan tay ra th́ đụng vào thành của bồn. Đó là lư do tại sao chúng ta nhảy vào bồn tắm và muốn đi ra sớm chừng nào tốt chừng ấy. Không có cái ǵ thích thú để bơi trong bồn tắm. C̣n bơi ngoài biển, chúng ta mặc sức tung hoành, vung tay vung chân, thoả chí b́nh sanh, đầy hứng thú, đầy những bất ngờ mạo hiểm, thỏa chí tang bồng.

 

Một khách viếng hỏi một vị Mục sư, “Tại sao với những lời cầu nguyện khẩn khiết của Mục sư mà có những người không được chữa lành? Chuyện ǵ xảy ra cho những lời cầu nguyện của Mục sư mà không được Chúa đáp lời?”

 

Mục sư trả lời, “Đây là một câu hỏi rất quan trọng. Tôi cũng thường hỏi Chúa điều nầy. Ông có muốn biết Chúa trả lời với tôi như thế nào về những lời cầu nguyện không được đáp lời chăng?”

 

Khách viếng hoang mang và ngỡ ngàng đáp, “Vâng, cho tôi biết.”

 

Mục sư đáp, “Đức Chúa Trời bảo với tôi rằng chuyện nầy chẳng ăn nhằm ǵ đến con. Chuyện của con là phải cầu nguyện. C̣n chuyện của ta là quyết định phải làm ǵ với những lời cầu nguyện đó.”

 

Một vị Mục sư khác xin Chúa, “Xin ban cho con thêm quyền năng mà Chúa ban cho các đầy tớ của Chúa trong sách Công Vụ.”

 

Chúa đáp lời, “Ta đă ban cho con những điều hiệu nghiệm hơn là quyền năng. Ta đă ban cho con uy quyền trên tất cả mọi quyền lực của tối tăm.”

 

Mục sư hoang mang và hỏi Chúa, “Lạy Chúa, tại sao Chúa ban cho con uy quyền nầy rồi, nhưng tại sao con không thấy điều ǵ xảy ra cho chức vụ của con hết vậy?”

 

Chúa đáp lời, “V́ uy quyền phải được xử dụng. Hăy đi và xử dụng uy quyền mà trên tất cả uy quyền mà ta đă ban cho con. (Muốn xử dụng uy quyền có hiệu quả phải là con người thật, được Chúa gởi đi. C̣n nếu không th́ khi ra trận th́ sẽ chạy dài trước địch thủ. (Xem Công Vụ 19:13-16)

 

VI. LẼ THẬT TRONG LUẬT PHÁP

 

Sự lo lợ lớn nhất của Satan ngày hôm nay cũng giống y hệt như sự lo sợ của Pharaôn hay của viên sĩ quan Nhật trên. Satan sợ rằng hội thánh của Chúa một ngày nào đó sẽ khám phá ra lẽ thật trong Kinh Thánh, và hội thánh sẽ vùng lên. Đức Chúa Giê-su phán rằng, “Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha (giải thoát) các ngươi.” (Giăng 8:32)

 

Khi đứng trước quan thống đốc của La Mă là Phi-lát, Đức Chúa Giê-su đă tuyên bố, “Thật như lời, ta là vua. Nầy, v́ sao ta đă sanh và v́ sao ta đă giáng thế: Ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật th́ nghe lấy tiếng ta. Phi-lát hỏi rằng: Lẽ thật là cái ǵ?” (Giăng 18:37,38)

 

Giống như quan Phi-lát, tất cả chúng ta đều muốn biết lẽ thật haysự thật là ǵ. Sống mỗi ngày nhiều lúc phải đối đầu với điều gian dối, đặc biệt là trong thời đại đặt nặng vật chất hôm nay, chúng ta trở nên quen dần đi với sự giả dối. Nhưng tận trong tâm hồn, chúng ta ước ao được sống trong lẽ thật hay sự thật.

 

Lẽ thật mà Satan lo sợ hội thánh của Chúa khám phá là ǵ?

 

Đức Chúa Giê-su cho biết rằng Ngài là hiện thân của lẽ thật (Giăng 14:6). Chúa cũng cho biết rằng Kinh Thánh là lẽ thật (Giăng 17:17), v́ Kinh Thánh làm chứng về Đức Chúa Giê-su. Nhưng Kinh Thánh cũng cho biết rằng trước khi tận thế xảy ra, Satan sẽ mạo làm Đức Chúa Giê-su và nó sẽ biết xử dụng Kinh Thánh để lừa dối nhân loại (2 Têsalônica 2:1-11; Mathiơ 4:1-11; 2 Côrinhtô 11:14). Như vậy th́ Satan sẽ làm giống như Đức Chúa Giê-su, dùng Kinh Thánh như Đức Chúa Giê-su, làm sao chúng ta có thể phân biệt được thật hay giả? Satan rất lo sợ hội thánh của Chúa sẽ t́m ra manh mối nầy để phơi bày chân tướng của nó.

 

Tất cả Kinh Thánh đều là lẽ thật. Nhưng điều ǵ trong Kinh Thánh giúp chúng ta phân biệt được thật và giả?

 

Cầm một đồng tiền thật và một đồng tiền giả trên tay, chúng ta sẽ thấy rằng chúng giống nhau như đúc. Có thể đến 99% giống nhau. Nhiều lúc đồng tiền giả c̣n đẹp, c̣n mới, c̣n hấp dẫn hơn đồng tiền thật. Nhiều lúc Satan, giáo sư giả c̣n xử dụng Kinh Thánh tuyệt vời, hấp dẫn hơn những đầy tớ thật của Chúa. Chúng dùng Kinh Thánh để làm bùi tai, hợp với sự ham thích tội lỗi trong ḷng người. Làm cách nào để chúng ta nhận ra thật và giả?

 

Kinh Thánh cho biết rằng luật pháp được ban cho qua Môi-se, c̣n ân điển và lẽ thật ban cho qua Đức Chúa Giê-su . Nhưng nếu từ bỏ Môi-se th́ không thể nào có Đức Chúa Giê-su, không tin Môi-se th́ không thể nào tin Đức Chúa Giê-su được. V́ Đức Chúa Giê-su đêăn để làm ứng nghiệm luật pháp và lời tiên tri. Ngài muốn người ta giữ và dạy luật pháp. (Giăng 1:17; 5:46,47; Mathiơ 5:17-20)

 

Kinh Thánh cũng cho biết rằng trong luật pháp có “mẫu mực” (tiềm ẩn, chứa đựng) lẽ thật (Rôma 2:20b). Luật pháp của Chúa tức là 10 Điều Răn của Ngài. Người nào nói rằng tin Chúa mà không giữ các điều răn của Ngài th́ không có lẽ thật (I Giăng 2:4). Làm theo lẽ thật là làm theo điều răn (II Giăng 4). Trong ngày cuối cùng, Đức Chúa Trời Toàn Năng sẽ có một nhóm người trung tín với Ngài đó là những người “giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và giữ ḷng tin Đức Chúa Giê-su” (Khải Huyền 14:12).

 

Khi Satan hay antichrist sẽ hiện ra th́ sẽ nghịch lại cùng luật pháp (2 Têsalônica 2:8).

Satan sẽ nổi giận và tranh chiến cùng những người vẫn trung tín làm theo điều răn hay luật pháp của Đức Chúa Trời trong ngày cuối cùng (Khải Huyền 12:17).

 

10 Điều răn của Đức Chúa Trời là bộ luật luân lư của Ngài cho nhân loại, là bổn phận giữa người đối với Trời và giữa người đối với người, bị loài người chà đạp hôm nay. Ngay trong hội thánh của Chúa, 10 Điều Răn cũng bị nhân danh ân điển và t́nh thường để chà đạp, coi thường, loại bỏ, thay đổi, đặc biệt là điều răn thứ hai và điều răn thứ tư, là điều cấm con người làm h́nh tượng, thờ h́nh tượng, và giữ ngày thứ bảy hằng tuần làm ngày thánh, yên nghỉ và thờ phượng.

 

Có biết bao nhiêu con cái Chúa bị bịt mắt, bị hướng dẫn sai lầm, bị ngăn chận, bị áp lực để đừng biết đến lẽ thật của Chúa. Phạm một điều răn là phạm tất cả (Giacơ 2:10). Như vậy hủy bỏ hay thay đổi một điều răn là hủy bỏ toàn bộ 10 Điều Răn, là hủy bỏ lẽ thật.

 

Đức Thánh Linh th́ muốn ghi luật pháp hay lẽ thật vào ḷng chúng ta. C̣n ma quỷ th́ bịt mắt, che đậy chúng ta đừng thấy lẽ thật. (Giêrêmi 31:33; Rôma 8:1-9; II Côrinhtô 3:3-6).

 

Hỡi những ai đọc được những ḍng chữ nầy hôm nay, hăy đứng lên. Hăy nhờ ơn Chúa để đứng lên, để đừng bị lừa dối, đừng tiếp tục sống trong sự giả dối, bị bắt làm nô lệ nữa. Hăy đứng lên để sống theo luật của Chúa, thay v́ theo luật của con người.

 

VII. KÊT LUẬN

 

Khi Tướng Wainwright đáp phi cơ đến Nhật Bản để tham dự trong nghi lễ đầu hàng của Nhật Bản, ông lo sợ giây phút phải đối diện với cấp chỉ huy của ḿnh là Đại Tướng MacArthur. Dù rằng đă được thả tự do, ḷng của ông vẫn c̣n đầy sự tủi hổ.

 

Khi Đại Tướng MacArthur đi ngang qua chỗ Tướng Wainwright đứng, Tướng Wainwright vô cùng xấu hổ, ông muốn chạy trốn vào trong một góc nào đó.

 

Đại Tướng MacArthur, nh́n ra Wainwright, và gọi ông đi ra. Tướng Wainwright vâng lời đi ra, khi nh́n cấp chỉ huy của ḿnh, ḷng Tướng Wainwright hoàn toàn tan vỡ, nước mắt tuôn tràn, với tấm ḷng đầy sự xấu hổ. Ông đă phụ ḷng tin tưởng của cấp chỉ huy ḿnh. Ông đă đầu hàng tại Corregidor.

 

Đại Tướng MacArthur đưa hai tay ra, ôm lấy thuộc hạ của ḿnh, và nói đơn giản, “Thôi không sao, anh đă chiến đấu rất anh dũng.”

 

Trong nghi lễ kư kết ḥa b́nh tiếp theo sau đó, nhiều vị tướng, nhiều đề đốc, nhiều nhân vật đă từng phục vụ trong Binh Đoàn Thái B́nh Dương ước mong được đứng bên cạnh tướng MacArthur. Nhưng Đại Tướng MacArthur cho tất cả đứng phía sau ḿnh.

 

Chỉ có hai vị tướng được được bên phải và bên trái của MacArthur, đó là tướng Anh Quốc Percivale, là người đă dầu hàng Nhật Bản tại Singapore, và đứng bên phải là Tướng Wainwright là người đă đầu hàng tại Corregidor.

 

Sau khi đặt chữ kư của ḿnh vào thỏa nghị Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện,

 

MacArthur đưa bút cho 2 vị tướng đă đầu hàng quân Nhật, kư tiếp theo. Ông có ư nói, “Các anh đă làm hết khả năng của ḿnh. Đừng quá khó khăn với ḿnh. Chúng ta đă chiến thắng.”

 

Có lẽ chúng ta nghĩ rằng chúng ta đă làm sĩ nhục Danh Chúa, chúng ta đă phụ ḷng Chúa, chúng ta đă đầu hàng quân thù, chúng ta vẫn c̣n là tù binh của ma quỷ. Có thể chúng ta đă đầu hàng. Hăy nh́n lên Đức Chúa Giê-su. Hăy bắt đầu trở lại. Hăy đứng lên và sống trong sự chiến thắng. Chúa đă tha thứ tất cả cho chúng ta.

 

Chúa phán với chúng ta, “Các ngươi có thể đầu hàng một, hai, hay vài trận chiến. Nhưng Ta đă chiến thắng cho cả cuộc chiến. Hăy can đảm lên.”

 

Hăy đi và được giải thoát, và giúp cho những người khác được giải thoát.

 

MS Dương Quốc Tùng

Copyright ỉ by Peace & Happiness Ministry

All rights Reserved

Copyright  © by Peace & Happiness Ministry, All rights reserved.
ABHP giu ban quyen tat ca moi tai lieu trong mang nay.