PHÚC ÂM ĐỜI ĐỜI
MS Dương Quốc Tùng
Copyright by Peace & Happiness Ministry All Rights Reserved
|
“Tin lành” hay “phúc âm” là ǵ? Ngày hôm nay có quá nhiều người tự xưng là rao giảng phúc âm. Nhưng càng nghiên cứu Kinh Thánh chúng ta càng hoang mang với những điều tự xưng là “phúc âm” mà chúng ta đă nghe qua. Càng nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta càng nhận thức ra một điều: những ǵ mà người ta gọi là “phúc âm” ngày hôm nay bị pha loăng quá nhiều. Hơn thế nữa lại có nhiều sứ điệp phúc âm, mà không hề có chút ǵ liên hệ với phúc âm trong Thánh Kinh.
Nhiều phúc âm ngày nay đem lại cho người nghe một niềm hy vọng giả dối. Những phúc âm nầy hứa hẹn một sự cứu rỗi cho con người, nhưng trên thực tế lại đi nghịch đường lối Đức Chúa Trời Toàn Năng. Người ta được hứa hẹn một sự sống đời đời, nhưng thực tế vẫn sống làm nô lệ cho tội lỗi. Những phúc âm nầy làm cho ân điển của Chúa trở nên rẻ tiền, mất giá trị, bị chà đạp và coi thường bởi ngoại giáo.
Những nhà rao giảng phúc âm giả dối nầy bảo người nghe rằng họ chỉ cần biết và chấp nhận một số dữ kiện hay tư tưởng về Đức Chúa Giê-su để được cứu rỗi. Rồi những ǵ xảy ra sau đó không thành vấn đề, sống như thế nào cũng được. Một khi tin là coi như đă được sự sống đời đời. Cách sống sau đó là chuyện riêng của mỗi cá nhân.
Hai câu Kinh Thánh sau đây thường bị hiểu lầm là chỉ cần đồng ư tin là đủ để được cứu: “Hai người trả lời rằng: Hăy tin Đức Chúa Jêsus, th́ ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 16:31) “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và ḷng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đă khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, th́ ngươi sẽ được cứu;” (Rôma 10:9)
Nếu đọc cho kỹ bản chính, chúng ta thấy rằng cả hai câu đều nói, nếu tin “Giê-su là Chúa,...” Nói một cách khác, Đức Chúa Giê-su có 2 vai tṛ trong đời sống tâm linh của chúng ta: Ngài là Đấng Cứu chúng ta, và Ngài cũng là Đấng Chúa Tể của đời sống chúng ta. Nếu chỉ nhấn mạnh hay chấp nhận vai tṛ cứu rỗi của Ngài, và quên đi vai tṛ chúa tể đời sống của chúng ta th́ điều đó hoàn toàn sai lầm.
Sứ đồ Phi-e-rơ đă tuyên bố, “Vậy, cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đă tôn Giê-su nầy, mà các ngươi đă đóng đinh trên thập tự giá, làm Chúa và Đấng Christ.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:36)
Khi báo tin mừng về sự giáng sinh của Đức Chúa Giê-su cho những người chăn chiên, thiên sứ đă tuyên bố: “Đừng sợ chi; v́ nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đă sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa.” (Luca 2:10)
“Làm Chúa” nghĩa là Đấng cai trị mọi sự trong đời sống của người tin. Ư Ngài phải được tuân phục. “Làm Đấng Christ” có nghĩa là Đấng cứu chúng ta khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi. Cả hai vai tṛ nầy của Chúa Giê-su phải đi đâu với nhau. Không thể chấp nhận một điều và bỏ điều kia.
Sự khác biệt giữa phúc âm thật và phúc âm giả dối là sự khác biệt giữa ơn phước và rủa sả, giữa chiên và dê, giữa được cứu và hư mất, giữa hội thánh thật và giả, giữa thiên đàng và địa ngục, giữa lẽ thật và lẽ giả. Phúc âm thật sẽ đem con người vào gia đ́nh của đức tin (Galati 6:10: Êphêsô 4:20,21; I Timôthê 3:15) và phúc âm giả sẽ đem người vào hội của quỷ Satan (Khải Huyền 3:9; 17:1-5; Giăng 8:44).
Kinh Thánh Galati 1:6-8 và Khải Huyền 22:18,19 là những lời cảnh cáo cho những ai pha loăng phúc âm, sửa đổi phúc âm, bóp méo phúc âm để làm vừa ḷng ngừơi nghe.
Và Kinh Thánh Êsai 9:15 và Khải Huyền 18:4 là những lời cảnh cáo cho những ai thích đi theo hay nghe theo những phúc âm giả dối.
|
|
1) CHỈ CÓ MỘT PHÚC ÂM TRONG KINH THÁNH
Trước hết, chúng ta phải biết rằng chỉ có một phúc âm trong toàn bộ Kinh Thánh. Cái điều mà những người rao giảng cho rằng có sự mâu thuẫn giữa Cựu Ước và Tân Ước, giữa Đức Chúa Trời của Cựu Ước và Đức Chúa Giê-su của Tân Ước là sự hiểu lầm hay hiểu chưa đến nơi chốn, hay cố t́nh bóp méo theo đường lối của một hệ thống thần học nào đó. Sứ đồ Phao-lô dưới sự khải thị của Đức Thánh Linh đă tuyên bố rằng,
“Tôi lấy làm lạ cho anh em đă vội bỏ Đấng gọi anh em bởi ơn Đức Chúa Jêsus Christ, đặng theotin lành khác. Thật chẳng phải có tin lành khác, nhưng có mấy kẻ làm rối trí anh em, và muốnđánh đổ Tin lành của Đấng Christ. Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời, truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin lành chúng tôi đă truyền cho anh em, th́ người ấy đáng bị a-na-them! Tôi đă nói rồi, nay lại nói lần nữa: Nếu ai truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin lành anh em đă nhận, th́ người ấy đáng bị a-na-them! C̣n bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp ḷng loài người chăng? Ví bằng tôi c̣n làm cho đẹp ḷng người, th́ tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ. Hỡi anh em, tôi nói cho anh em rằng, Tin lành mà tôi đă truyền, chẳng phải đến từ loài người đâu; v́ tôi không nhận và cũng không học Tin lành đó với một người nào, nhưng đă nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Jêsus Christ.” (Galati 1:6-12)
Sứ đồ Phao-lô cho biết rằng chỉ có một phúc âm trong Kinh Thánh. Không ai được phép rao truyền bất cứ phúc âm nào, ngoại trừ phúc âm từ Đức Chúa Giê-su. Và toàn bộ phúc âm mà sứ đồ Phao-lô rao giảng đến từ Đức Chúa Giê-su. Như vậy, phúc âm của Sứ đồ Phao-lô chính là phúc âm mà Đức Chúa Giê-su đă rao giảng, cũng chính là phúc âm của các sứ đồ và các đấng tiên tri rao giảng.
|
2) Ư NGHĨA TỔNG QUÁT CỦA “PHÚC ÂM”
Hai chữ “phúc âm” hay được gọi theo ngôn ngữ b́nh dân là “tin lành” đến từ Hy ngữ là euangelion có nghĩa là tin tức tốt lành. Trong toàn bộ Kinh Thánh không hề có chữ “đạo” trước hai chữ “Tin Lành” như những nhà dịch Kinh Thánh thuộc các tổ chức Tin Lành Việt Nam thêm vào.
Tin lành hay phúc âm có nghĩa là tin tức đem lại niềm vui. Trong Kinh Thánh Tân Ước, hai chữ nầy được dùng khoảng 75 lần, chỉ đến Thượng Đế Toàn Năng đă thực hiện lời hứa cứu rỗi của Ngài thời Kinh Thánh Cựu Ước, trong Đức Chúa Giê-su, để đem sự cứu rỗi của Ngài cho toàn thể nhân loại. (Mathiơ 1:18-23; Luca 2:10-11; Galati 3:27-29; Êphêsô 1:3-6; 3:4-6; v.v...).
Phúc âm là Đức Chúa Giê-su đă đền xong món nợ tội lỗi của mỗi người trong chúng ta, đă thoả đáp được tiêu chuẩn công b́nh của luật pháp Thượng Đế Toàn Năng, đă chiến thắng sự chết qua sự phục sinh của Ngài, và sẵn sàng ban món quà cứu rỗi đó cho những ai tin nhận Ngài, cũng như ban Đức Thánh Linh trong ḷng để giúp đỡ những người tin nhận Ngài hầu những người ấy sống theo tiêu chuẩn công b́nh của luật pháp Chúa hầu cho họ là một dân tộc thánh của Chúa để làm sáng Danh Ngài (I Côrinhtô 15:1-4; Rôma 1:16,17; Giăng 3:5; Rôma 7:21-8:7; Tít 2:11-14; I Côrinhtô 6:9-11; Êphêsô 2:8-10; Mathiơ 5:13-16, v.v...).
Trong thư gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô, dưới sự khải thị của Đức Thánh Linh, sứ đồ Phao-lô đă viết, “Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin lành (phúc âm) mà tôi đă rao giảng và anh em đă nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo (phúc âm) ấy, và nhờ đạo (phúc âm) ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đă giảng cho; bằng không, th́ anh em dầu có tin cũng vô ích. Vả, trước hết tôi đă dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đă nhận lănh, ấy là Đấng Christ chịu chết v́ tội chúng ta theo lời Kinh thánh; Ngài đă bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh thánh;” (I Côrinhtô 15:1-4)
Những câu nầy cho chúng ta thấy rằng trung tâm của phúc âm là Đức Chúa Giê-su: sự hy sinh của Ngài v́ tội lỗi của chúng ta, và sự phục sinh của Ngài v́ sự cứu rỗi của chúng ta. Tất cả h́nh phạt v́ tội lỗi của chúng ta đều đổ trên Ngài. Tất cả mọi sự h́nh phạt mà đáng lư chúng ta phải gánh chịu đều được Ngài gánh cho chúng ta. Và Đức Chúa Trời sẵn sàng ban sự tha thứ hoàn toàn cho chúng ta là những người tin nhận Đức Chúa Giê-su làm Cứu Chúa và Chủ cuộc đời ḿnh. Người nghe chẳng những nghe và quyết định tin nhận mà c̣n phải “giữ” những điều đó trong đời sống. Nghĩa là niềm tin đó phải có ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta mỗi ngày. C̣n nếu không niềm tin đó trở thành vô ích.
Phúc âm không phải chỉ là mẫu tin được loan đi để chúng ta nghe và tiếp nhận. Phúc âm c̣n là quyền năng của Thượng Đế Toàn Năng để cứu rỗi người tin. Trong thư gởi cho Hội Thánh tại Rô-ma, Sứ đồ Phao-lô viết,
“thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, v́ là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; v́ trong Tin lành nầy có bày tỏ sự công b́nh của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công b́nh sẽ sống bởi đức tin.” (Rôma 1:16,17)
Từ câu Kinh Thánh trên chúng ta t́m thấy ba điều sau về tin lành hay phúc âm: 1) quyền phép Chúa để cứu mọi kẻ tin; 2) chứa đựng sự công b́nh, tức tiêu chuẩn đạo đức thánh khiết của Đức Chúa Trời; 3) tăng thêm đức tin cho người tiếp nhận.
Nói một cách khác, phúc âm không phải chỉ là những ǵ đă xảy ra trên thập tự giá cách đây khoảng 2000 năm, mà gồm luôn những ǵ đang xảy ra và sẽ xảy ra trong đời sôăng người tin. Người tin càng đầu phục Chúa trong đời sống, bỏ đi ư riêng của ḿnh, quyền năng của Chúa càng hành động trong đời sống người đó.
| |
| 3) TIN VUI CHO NHỮNG NGƯỜI ĐĂ CHẤP NHẬN HUNG TIN: PHÚC ÂM CHO NHỮNG NGƯỜI ĐĂ TIN VỀ HỌA ÂM
Phúc âm đáng lư ra phải là tin vui mừng cho mọi người. Nhưng thật ra phúc âm chỉ là tin mừng cho những người đă tin về hung tin, đó là chấp nhận một sự thật phủ phàng về bản thân của họ.
Câu hỏi mà chúng ta nên đặt ra là: Tại sao Đức Chúa Giê-su phải bị đóng đinh trên thập tự? Trả lời: V́ tội lỗi của con người.
Hỏi, “Tại sao biết rằng con người phạm tội?”
Trả lời, “V́ con người phạm luật pháp mà Thượng Đế dùng cai trị vũ trụ.” (I Giăng 3:4)
Hỏi, “Phạm luật của Thượng Đế th́ điêảu ǵ sẽ xảy ra?”
Trả lời, “Hậu quả là con người phải chết. Nhưng thay v́ để cho con người chết, Chúa lại chết thế cho con người để bày tỏ t́nh yêu của Chúa dành cho con người.” (Rôma 6:23)
Hỏi, “Nếu Chúa yêu thương th́ tại sao Chúa không tha cho tội nhân cách nhưng không mà Ngài lại phải chết trên thập tự?”
Trả lời, “V́ luật pháp là tiêu chuẩn công b́nh để Chúa cai trị vũ trụ không thể bị phá vỡ được.” (Mathiơ 5:17-20; Rôma 3:31) Như vậy, trong phúc âm có chứa đựng tiêu chuâẩn công b́nh thánh khiết của Chúa, lẫn t́nh thương của Ngài dành cho loài người.
Giả sử có một vị bác sĩ là thần y, tuyên bố rằng ông vừa khám phá ra một phương pháp chữa trị một chứng bịnh nan y mà từ xưa đến nay không ai trị được. Tin tức nầy chỉ là tin vui cho những người là nạn nhân của chứng bịnh đó. Nó là phúc âm hay tin mừng cho những người biết rằng ḿnh đang mắc phải chứng bệnh đó mà thôi.
Một vị bác sĩ tận tâm tài giỏi, sẽ phải làm hai điều sau: 1) Khám nghiệm để biết căn nguyên của cơn bịnh; 2) Viết một toa thuốc để trị bịnh - nếu có phương pháp để trị liệu.
Khi bác sĩ định bịnh và khám phá ra bịnh, bổn phận của bác sĩ là phải cho bệnh nhân biết rằng người ấy đang mắc chứng bịnh đó.
Tin buồn nầy sẽ làm cho bệnh nhân chán nản, buồn bă, mất tinh thần, đau buồn. Bệnh nhân có thể từ chối không tin rằng ḿnh mắc bịnh. Bệnh nhân có thể coi bác sĩ như là một kẻ thù. Bệnh nhân có thể t́m những bác sĩ khác để tuyên bố những lời mà bệnh nhân muốn nghe và thích nghe.
Nhưng một bệnh nhân có sự suy nghĩ sẽ dần dần chấp nhận tin buồn đó, trước khi bệnh nhân nhận ra nhu cầu để chữa trị, tức là chấp nhận tin mừng phúc âm.
Nếu bệnh nhân không chấp nhận rằng ḿnh đang mắc một chứng bịnh ngặt nghèo, bệnh nhân sẽ không chấp nhận phúc âm để được chữa trị.
Và không một bệnh nhân nào đă chấp nhận sự chữa trị và được lành bệnh mà lại muốn bị bịnh trở lại.
Trong lănh vực tâm linh cũng y hệt như vậy, luật pháp của Đức Chúa Trời cho loài người biết tin buồn. Luật pháp chỉ cho chúng ta thấy được chứng bịnh trong tâm hồn. Luật pháp cho chúng ta thấy rằng, chúng ta đều là tội nhân và xứng đáng cho h́nh phạt là sự chết. Luật pháp cho chúng ta thấy tiêu chuẩn thánh khiết của Thượng Đế Toàn Năng, và đó là tiêu chuẩn mà mỗi người trong gia đ́nh nhân loại phải sống.
Nhưng luật pháp không có quyền năng để cứu chúng ta khỏi cơn bịnh nan y của tội lỗi.
“Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời; v́ chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công b́nh trước mặt Ngài, v́ luật pháp cho người ta biết tội lỗi. Nhưng hiện bây giờ, sự công b́nh của Đức Chúa Trời, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đă bày tỏ ra ngoài luật pháp: tức là sự công b́nh của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, cho mọi người nào tin. Chẳng có phân biệt chi hết, v́ mọi người đều đă phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công b́nh nhưng không, bởi sự chuộc tội đă làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng Đức Chúa Trời đă lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đă bày tỏ sự công b́nh ḿnh như vậy, v́ đă bỏ qua các tội phạm trước kia, trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đă tỏ sự công b́nh Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra ḿnh là công b́nh và xưng công b́nh kẻ nào tin đến Đức Chúa Jêsus.” (Rôma 3:19-26)
Chỉ có những ai chấp nhận rằng họ đang bị một chứng bịnh nan y tội lỗi qua sự bày tỏ của luật pháp, công nhận tội lỗi của họ, và công nhận rằng họ không thể nào tự chữa trị được chứng bịnh nầy, đến lúc đó Phúc Âm mới thật sự là phúc âm. Đức Chúa Giê-su phán, “Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; Ta chẳng phải đến để gọi người công b́nh, nhưng gọi kẻ có tội.” (Mác 2:17)
Phúc âm là ǵ? Phúc âm là: * khi chúng ta yếu đuối bất lực, Chúa làm mọi sự đều được * khi chúng ta đáng đi vào chỗ chết, Chúa chết thay cho chúng ta * khi chúng ta hay phân tâm thay đổi, Chúa chẳng hề đổi thay * khi chúng ta sợ hăi, Chúa là Đấng Cứu Chuộc chúng ta. * khi chúng ta dơ nhớp, Chúa lau sạch cho chúng ta. * khi chúng ta không có sức, Chúa ban thêm sức cho chúng ta. * khi chúng ta dễ vấp ngă, Chúa nâng đỡ và chiến thắng cho chúng ta. * khi chúng ta bất toàn, nhuốc nhơ, Chúa phủ che chúng ta trong áo công b́nh thánh khiết của Ngài. * khi chúng ta không thể tự cứu lấy ḿnh được, Chúa nắm tay và cứu chúng ta. * khi chúng ta không đủ sức để làm theo điều răn của Chúa, th́ Ngài ban Thánh Linh sống trong ḷng chúng ta và ban quyền năng cho chúng ta để sống theo điều răn của Ngài.
|
|
|
4) PHÚC ÂM CÓ TỪ KHI NÀO
Những người cho rằng Phúc Âm chỉ có trong phần Kinh Thánh Tân Ước đă hoàn toàn sai lầm. Những người cho rằng ân điển, đức tin, sự cứu rỗi, Đức Chúa Giê-su chỉ hiện diện hay được nói đến trong thời Tân Ước mà thôi hoàn toàn sai lầm. Chúng ta hăy suy gẫm những đoạn Kinh Thánh sau:
“Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin lành Đức Chúa Trời, ố là Tin lành xưa kia Đức Chúa Trời đă dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh thánh.” (Rôma 1:1,2)
Kinh Thánh Cựu Ước gồm có 2 phần: phần Môi-se hay luật pháp và phần các đấng tiên tri. Các đấng tiên tri đă nói về phúc âm. Sứ đồ Phao-lô đă tuyên bố rằng hội thánh thời Tân Ước “đă được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà, cả cái nhà đă dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa.” (Êphêsô 2:20,21)
Các sứ đồ hay các đấng tiên tri đều tập trung về Đức Chúa Giê-su. Không hề có hai tiêu chuẩn của sự cứu rỗi trong Kinh Thánh. Sứ đồ Phao-lô viết tiếp, “Đọc đến th́ anh em có thể rơ sự hiểu biết của tôi về lẽ mầu nhiệm của Đấng Christ, là lẽ mầu nhiệm trong các đời khác, chưa từng phát lộ cho con cái loài người, mà bây giờ đă được Đức Thánh Linh tỏ ra cho các sứ đồ thánh và tiên tri của Ngài. Lẽ mầu nhiệm đó tức là: Dân ngoại là kẻ đồng kế tự, là các chi của đồng một thể, đều có phần chung với chúng ta về lời hứa đă nhờ Tin lành mà lập trong Đức Chúa Jêsus Christ.” (Êphêsô 3:4-6)
Nếu chúng ta cho rằng Môi-se viết về luật pháp và không phù hợp để rao giảng phúc âm hôm nay, chúng ta đă hoàn toàn sai lầm. Chính Đức Chúa Giê-su đă phán rằng, “V́ nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta mà người đă chép. Nhưng nếu các ngươi chẳng tin những lời người chép, các ngươi há lại tin lời ta sao?” (Giăng 5:46,47).
Đức Chúa Giê-su khẳng định rằng Môi-se hay luật pháp nói về Chúa. Và Chúa xác nhận rằng nếu không tin phần luật pháp của Cựu Ước th́ không thể nào tin Đức Chúa Giê-su được. Nói một cách khác, muốn tin Tân Ước phải tin Cựu Ước, muốn tin Phúc Âm phải tin Cựu Ước. Muốn rao giảng phúc âm phải rao giảng Cựu Ước. “Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh thánh.” (Luca 24:27)
Khi sứ đồ Phao-lô giảng đạo, ông dùng phần Kinh Thánh nào để rao giảng? Hội thánh đầu tiên dùng phần Kinh Thánh nào để rao giảng về Phúc Âm?
“Họ đă hẹn ngày với người, bèn đến thăm tại nơi nhà trọ rất đông; từ buổi sáng đến chiều, người cứ làm chứng và giảng giải với họ về nước Đức Chúa Trời, lấy luật pháp Môi-se và các đấng tiên tri mà gắng sức khuyên bảo họ về Đức Chúa Jêsus.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 24:23).
Nói tóm lại, phúc âm có từ trước và cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều rao truyền về phúc âm.
Đức Chúa Trời phán cùng con rắn rằng, “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, ḍng dơi mầy cùng ḍng dơi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, c̣n mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng Thế Kư 3:15). Đây là lời hứa của phúc âm ngay sau khi con người phạm tội. Những chữ “ḍng dơi người nữ,” “người,” chỉ đến Đức Chúa Giê-su sẽ giày đạp đầu Satan, tức là giày đạp tội lỗi, sự chết, âm phủ và tất cả quyền lực của sự tối tăm. Không có Đức Chúa Giê-su không một ai có thể chiến thắng được tội lỗi, sự chết, âm phủ, quyền lực của ma quỷ.
| |
|
5) PHÚC ÂM THEO ĐỨC CHÚA GIÊ-SU
Khi Đức Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ của Ngài, Kinh Thánh chép lại rằng, Ngài “rao giảng phúc âm của Đức Chúa Trời. Thời gian đă trọn, nước của Đức Chúa Trời đă đến gần. Hăy ăn năn và tin phúc âm.” (Mác 1:14,15).
Phúc âm của Đức Chúa Giê-su không phải là một sự năn nỉ để con người làm một sự quyết định hay dâng một lời cầu nguyện lên với Chúa. Nhưng là Lời Chúa kêu gọi con người hăy từ bỏ con đường tội lỗi, cách sống tội lỗi, và tiếp nhận tiêu chuẩn công b́nh thánh khiết của Đức Chúa Trời. Đây không phải là một sự quyết định ngắn ngủi, mà là một sự thay đổi đường lối sống 180 độ.
Phúc âm mà Chúa rao giảng là một lối sống đi theo Ngài, làm môn đồ của Ngài, sẵn sàng dấn thân để đi theo Ngài (Mathiơ 7:13-27; Luca 9:23-27; 14:25-35). Môn đồ của Ngài là những người sống trong thế gian, nhưng là công dân của thiên đàng. Chúa ban cho mọi sự, nhưng cũng sẵn sàng từ bỏ mọi sự khi nghe mệnh lệnh của Ngài (Giăng 17:11-19; Philíp 3:17-21) Đức Chúa Giê-su phán,
“Hăy vào cửa hẹp, v́ cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được th́ ít. Hăy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé. Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được. Nào có ai hái trái nho nơi bụi gai, hay là trái vả nơi bụi tật lê? Vậy, hễ cây nào tốt th́ sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu th́ sanh trái xấu. Cây tốt chẳng sanh được trái xấu, mà cây xấu cũng chẳng sanh được trái tốt. Hễ cây nào chẳng sanh trái tốt, th́ phải đốn mà chụm đi. Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được.
Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, th́ đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ư muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rơ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hăy lui ra khỏi ta!
Vậy, kẻ nào nghe và làm theo lời ta phán đây, th́ giống như một người khôn ngoan cất nhà ḿnh trên vầng đá. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy; song không sập, v́ đă cất trên đá. Kẻ nào nghe lời ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà ḿnh trên đất cát. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy, th́ bị sập, hư hại rất nhiều.” (Mathiơ 7:13-27)
“Ngài đáp rằng: Hỡi kẻ giả h́nh, Ê-sai đă nói tiên tri về việc các ngươi phải lắm, như có chép rằng: Dân nầy lấy môi miếng tôn kính ta, Nhưng ḷng chúng nó cách xa ta lắm. Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, V́ chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.( a) Các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của loài người! Ngài cũng phán cùng họ rằng: Các ngươi bỏ hẳn điều răn của Đức Chúa Trời, đặng giữ theo lời truyền khẩu của ḿnh.” (Mác 7:6-9)
Không phải v́ dân chúng phạm tội mà chúng ta phải hủy bỏ luật pháp để bày tỏ ḷng thương xót. Không phải v́ quan toà có ḷng khoang hồng mà luật pháp cai trị xă hội phải bị hủy bỏ. Công dân yếu đuối phạm tội, quan ṭa thương xót dân chúng th́ sẽ t́m cách để giáo dục, hổ trợ để dân chúng vâng theo luật pháp. Nhưng hủy bỏ luật pháp không phải là phương cách để giúp cho đời sống dân chúng tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.
|
6) PHÚC ÂM VÀ L̉NG KÍNH SỢ
Trong II Côrinhtô đoạn 5 câu 11, sứ đồ Phao-lô viết,
“Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ, nên t́m cách làm cho người ta đều tin.”
Tại sao Chúa đáng kính sợ mà lại rao giảng cho người ta đều tin? Theo sự suy nghĩ của loài người th́ phải rao giảng về t́nh yêu của Chúa, ḷng nhân từ của Chúa để cho người ta tin mới phải lư chứ?
Chúa là Đấng yêu thương nhưng cũng là Đấng thánh khiết công b́nh. Nghĩa là Ngài là Đấng xét đoán tất cả vũ trụ. Tội nhân không đến với quan toà bằng t́nh thương để được tha thứ.
Tội nhân khi hiện diện trước Quan Toà Tối Cao Công B́nh Thánh Khiết, phản ứng tự nhiên là sợ hăi. Và tội nhân cần phải đặt ḷng tin nơi chương tŕnh của Quan Toà để cứu ḿnh. Sau khi nhận được sự cứu rỗi, tội nhân sẽ biết ơn Quan Toà và yêu thương Quan Toà.
Nói cách khác, phúc âm kêu gọi con người tin Chúa, phải có nói đến tiêu chuẩn công b́nh thánh khiết của Ngài để người ta phải biết kính sợ, tôn kính. Chúa là Đấng Công B́nh Thánh Khiết đáng được tôn kính.
Câu Kinh Thánh sau tóm tắt đầy đủ chương tŕnh cưú rỗi của Chúa:
“Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe ḿnh; v́ chúng ta là việc Ngài làm ra, đă được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đă sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.” (Êphêsô 2:8-10)
Sự cứu rỗi gồm có 3 giai đoạn:
1) Những ǵ Chúa đă thực hiện cho chúng ta trên thập tự giá, và Ngài ban cho những ai tin nhận;
2) Những ǵ Chúa làm trong chính đời sống của chúng ta là người tin Ngài, biến đổi bản ngă của chúng ta bởi quyền năng Ngài;
3) Những ǵ Chúa làm qua chúng ta là những người đă t́nh nguyện làm tôi tớ của Ngài, ban quyền năng để chúng ta sống theo Lời Ngài và rao truyền Danh của Ngài ra khắp nơi (đọc thêm Rôma 6:15-19; Giacơ 2:14-26; I Phierơ 2:9).
Nếu giảng phúc âm mà không nói đến ảnh hưởng của biến cố thập tự giá trên đời sống của con người trong ngày hôm nay, th́ chính những người rao giảng đă hạ thấp giá trị của thập tự giá. Nếu ảnh hưởng của tội lỗi A-đam vẫn c̣n trên nhân loại ngày hôm nay, th́ ảnh hưởng của thập tự giá càng phải mạnh mẽ hơn nữa.
|
| 7) PHÚC ÂM & NGÀY TẬN THẾ
Khi Đức Chúa Giê-su ngồi trên núi Ô-li-ve, các môn đồ hỏi Ngài rằng, ”Điềm ǵ chỉ về sự Chúa đến và tận thế.” (Mathiơ 24:3)
Đức Chúa Giê-su cho họ biết rằng sẽ có christ giả, tiên tri giả nổi lên để dỗ dành con người, sẽ có chiến tranh, đói kém, dịch lệ, thiên tai xảy ra khắp nơi trên thế giới (Mathiơ 24:5-7). Và Chúa cũng cho biết rằng tất cả những điềm ấy chỉ là sự khởi đầu của hoạn nạn (Mathiơ 24:7).
Sau đó Chúa cho biết rằng dân sự trung thành của Chúa sẽ bị bắt bớ, sẽ sa ngă, sẽ bội đạo (Mathiơ 24:9-13). Rồi Chúa cho biết một điều quan trọng là “ai trung tín đến cuối cùng mới được cứu.” (Mathiơ 24: 13). Câu hỏi đặt ra là “khi nào sự cuối cùng sẽ đến?”
Dù cho khó khăn gian nan từ bên ngoài đưa đến, rồi hoạn nạn bắt bớ do chính người bên trong gây ra, nhưng những người trung thành với Chúa vẫn tiếp tục đứng vững đến giây phút cuối cùng để thi hành sứ mạng mà Chúa giao phó trước khi Ngài về trời, đó là rao truyền phúc âm cho nhân loại (Mathiơ 28:18-20). Chính sự trung tín thi hành đại mạng lệnh nầy mà Đức Chúa Giê-su phán rằng, “Phúc âm nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.” (Mathiơ 24:14)
Khi nào Chúa sẽ tái lâm và tận thế sẽ xảy ra cho thế giới của chúng ta? Khi Phúc Âm về nước của Đức Chúa Trời được giảng ra khắp thế giới để làm chứng cho muôn dân hay mỗi dân tộc, th́ sự cuối cùng hay tận thế sẽ đến. Hễ nói đến “nước Chúa” th́ Chúa phải là Vua. Nếu Chúa là Vua, th́ dân sự của Chúa phải sống theo tiêu chuẩn công b́nh của Ngài hay luật pháp của Chúa. Phúc Âm kêu gọi nhân loại lạc mất trở về với Đấng Tạo Hoá Toàn Năng, là Đấng đă tạo dựng ra họ và thế giới để họ hưởng, Đấng đă chết để cứu họ, và cũng là Đấng làm chủ đời sống những người tin.
|
|
8) PHÚC ÂM ĐỜI ĐỜI & SỨ ĐỒ GIĂNG
Khi bị đày trong đảo Bát-mô, Sứ đồ Giăng, vị sứ đồ cuôăi cùng c̣n sống sót khi thế kỷ thứ nhất gần chấm dứt, đă nhận được sự khải thị từ Đức Chúa Giê-su để viết lại lời tiên tri trong sách Khải Huyền. Khải Huyền cho biết t́nh trạng suy sụp về thuộc linh của hội thánh trong thời Tân Ước cho đến ngày Chúa tái lâm.
Trung tâm của Khải Huyền là đoạn 12 đến đoạn 14, nói về trận chiến giữa lẽ thật và lẽ giả.
Những người rao truyền lẽ thật sẽ trung thành với Chúa Giê-su trong đoạn 14 và họ nhận được Phúc Âm Đời Đời để rao truyền ra toàn thế giới. Và Phúc Âm Đời Đời sẽ được tiếp theo bởi 2 sứ điệp cảnh cáo và phán xét trong 7 bát thạnh nộ của Thượng Đế Toàn Năng.
“Điều ấy đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin lành (Phúc Âm) đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc. Người cất tiếng lớn nói rằng: Hăy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, v́ giờ phán xét của Ngài đă đến; hăy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước.” (Khải Huyền 14:6,7)
Phúc Âm nầy được gọi là đời đời, có nghĩa là Phúc Âm nầy đă có từ trước vô cùng và c̣n lại đời đời sau nầy. Và Phúc Âm Đời Đời nầy cũng do chính Đức Chúa Giê-su khải thị cho sứ đồ Giăng (Khải Huyền 1:1-3). Như vậy th́ cả hai sứ đồ Phao-lô và Giăng đều giảng một phúc âm.
Phúc Âm Đời Đời gồm có những điểm sau:
1) Kêu gọi nhân loại kính sợ Đức Chúa Trời Toàn Năng.
Kính sợ Ngài v́ chúng ta đă được Ngài cứu vớt và thuộc về Ngài (I Phierơ 1:17-19). Kính sợ Ngài có nghĩa là phải tuân giữ điều răn của Ngài (Truyền Đạo 12:13,14) Đức tin không bày tỏ qua sự vâng lời th́ đức tin đó sẽ dẫy chết (Giacơ 1:14-26) Kính sợ Chúa đem lại ơn phước cho đời sống (Thi Thiên 128:1,2) Kính sợ Chúa khiến cho người ta xa lánh điều ác (Châm 8:13; 16:6b)
2) Kêu gọi tôn vinh hay đem vinh hiển cho Danh Chúa v́ giờ phán xét của Ngài đă đến.
Đem vinh hiển cho Chúa v́ chúng ta thuộc về Chúa (I Côrinhtô 6:19,20; 10:31; Êphêsô 5:8- 21; Mathiơ 5:13-16, v.v...) Chúa bắt đầu sự phán xét từ trong hội thánh của Ngài để chuẩn bị phần thưởng khi Ngài tái lâm hầu ban cho những ngừơi trung tín (I Phierơ 5:17; Giăng 14:1-3; Khải Huyền 22:12).
3) Kêu gọi thờ phượng Đấng “dựng nên trời, đất, biển và các suối nước,” tức là thờ phượng Đấng Tạo Hoá.
Đức Chúa Trời khác với mọi thần thánh mà người ta thờ lạy. Tất cả các thần thánh do con người tạo nên đều là vật thọ tạo. Chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên mọi sự và xứng đáng để được thờ lạy, tôn kính, sùng bái. (Khải Huyền 4:11; Rôma 11:33-36)
Thờ phượng Đấng Tạo Hóa có nghĩa là thờ lạy Ngài trong ngày thứ bảy của tuần lễ.
Tại sao Chúa dựng nên ngày thứ bảy Sabát trong tuần lễ tạo thế sau khi mọi vật đă được dựng nên? (Sáng Thế Kư 2:1-3) Ngày thứ bảy Sabát là dấu hiệu của Đấng Tạo Hoá. (Êxêchiên 20:20)
Tại sao Chúa lại ra lệnh cho dân sự của Ngài phải giữ ngày thứ bảy? V́ Chúa đă tạo dựng mọi sự trong 6 ngày và yên nghỉ, ban phước, và đạẳt ngày thứ bảy làm ngày thánh. (Xuất Êdíptô kư 20:8-11)
Ngày thứ bảy là dấu hiệu rằng Chúa đă cứu và làm cho chúng ta nên thánh. (Êxêchiên 20:12; Phục Truyền 5:12-15)
| |
|
|
9) KẾT LUẬN
Phúc Âm Đời Đời là phúc âm có từ trước vô cùng và đến đời đời sau nầy. Đây là phúc âm trọn vẹn, rao truyền tất cả chương tŕnh cứu rỗi của Thượng Đế Toàn Năng cho nhân loại. Không thêm vào, không sửa đổi bỏ bớt để hợp ư người nghe. Phúc âm dành cho những người thật sự chán ghét đời sống tội lỗi, bị trĩu nặng dưới gánh nặng của tội lỗi và ma quỷ. Và muốn thoát khỏi quỹ đạo đó để quay về với Đức Chúa Trời.
Phúc âm nầy không phải chỉ rao giảng ngay tại biến cố thập tự giá mà thôi, mà c̣n nói đến ảnh hưởng của biến cố đó cho nhân loại ngày hôm nay và đời đời sau nầy trên trời mới và đất mới. Mục Sư Dương Quốc Tùng Copyright 2007 by ABHP
|
PHƯỚC TRONG ĐỜI NÀY
Trung-hoa lục địa vào năm 1910. Người đàn ông trẻ tuổi hăng hái đặt những bước chân đầu tiên lên hải cảng xa lạ cùng với các bạn giáo sĩ được gởi đi từ Canada Bắc Mỹ. Anh là một thanh niên đầy nhiệt huyết và hết ḷng trong sứ mạng rao giảng Tin Lành về Đức Chúa Jêsus ra cho những người chưa từng được biết.
Ở Trung quốc chưa được bao lâu, anh vô t́nh nghe được có một bộ lạc săn đầu người ở dọc khu rừng rậm biên giới Trung-hoa và Ấn-độ; anh yêu cầu cấp lănh đạo cho anh được giảng đạo tại vùng này. Những người có trách nhiệm sau nhiều lần khuyên giải cũng như cấm đoán anh một cách vô ích, cuối cùng phải miễn cưỡng đồng ư trước thái độ nhất quyết của anh.
Đây là một bộ lạc hung dữ nhất trong các sắc dân thuộc vùng biên giới Hoa Ấn. Họ sống trần truồng man rợ, cách biệt xă hội bên ngoài bằng những khu rừng đầy thú dữ. Họ thường giết bất cứ kẽ lạ mặt nào mà họ bắt gặp và cắt đầu người đó về ướp làm chiến tích để trưng bày.
Người truyền đạo trẻ tuổi ẩn núp trong rừng rậm và theo dơi những người bộ lạc đi săn lẻ một ḿnh. Khi thấy hoàn cảnh thuận tiện là anh ḅ ra. Anh bập bẹ và ra dấu làm quen. Nếu thấy người này không có vẻ muốn giết ḿnh th́ anh ḷ ṃ đi theo mặc dầu bị họ xô đuổi đánh đá nặng nề. Anh kiên nhẫn đi theo người này và nói về sự cứu rỗi của Đức Chúa Jêsus cho họ.
Anh giảng mà không cần biết họ có hiểu hay không. Có khi chỉ được 5, 10 phút, có khi được vài giờ. Rồi anh vội vàng làm phép Báp-têm cho người đó, và trốn về nơi ẩn núp, cầu nguyện và chờ đợi cho đến sáng hôm sau.
Anh làm như vậy trong 4 ngày, nhiều khi gặp những tay thợ săn đầu người hung dữ rượt đuổi, anh phải trốn chạy nhưng hầu như mỗi ngày anh đều giảng đạo được cho một người dân trong bộ lạc. Qua đến ngày thứ 5 th́ sự nguy hiểm lên đến cao độ, cả bộ lạc đều biết đến sự có mặt của anh trong rừng rậm và họ t́m cách truy lùng anh để giết cho kỳ được. Trong khi chạy trốn và ẩn núp, người thanh niên can đảm vẫn c̣n giảng đạo được thêm cho người thứ năm, là một trong những người đang rượt bắt anh. Giây phút nguy hiểm sau cùng, anh để lại trong tay người bạn mới quyển sách Giăng mà anh vẫn đem theo trong người. Và sau đó trong sự che chở của Chúa anh trốn về được đến nơi an toàn.
Cuộc đời của người giáo sĩ vẫn tiếp tục tại Trung quốc, và rồi anh trở lại Canada tiếp tục cuộc đời ḿnh tại quê nhà. Bộ lạc săn đầu người, trong kư ức của anh, chỉ là một cuộc phiêu lưu rùng rợn của thời trai trẻ.
Nhưng trong chốn rừng rậm xa xôi kia... Quyển sách Giăng của anh đă được mở ra rất nhiều lần, không phải để đọc mà là để ngắm nghía. Những lời nói lạ lùng về Đức Chúa Jêsus làm người thợ săn đầu người bâng khuâng. Ông không hiểu điều ḿnh đă nghe, nhưng ông biết những điều ấy có liên quan đến quyển sách kỳ lạ mà lần đầu tiên ông mới nh́n thấy. Và cứ mỗi lần ông nhớ đến lời nói của người lạ th́ ông lại lấy quyển sách ra ngắm nghía. Ông và 4 người khác trong bộ lạc hết c̣n hứng thú tham dự vào những cuộc tranh đua săn đầu người nữa; thay vào đó họ chăm chỉ trồng trọt và săn bắn.
Con trai của ông là người ṭ ṃ, anh thường t́m đến những nhóm người sống rải rác đây đó và giao du với những người trong xóm làng ở thung lũng. Anh là người đem những tin tức văn minh lạ lùng về cho dân bộ lạc trong rừng rậm.
Khi đứa con trai đầu ḷng của anh được 10 tuổi, anh muốn nó theo học chữ ở trường làng. Mỗi ngày thằng bé phải chạy như bay, xuyên qua mấy chục miles rừng rậm đầy thú dữ để đến trường học, rồi lại phải cấp tốc chạy như bay về nhà trước khi màn đêm buông xuống. Những lần gặp cọp beo, heo rừng, trăn độc, hoặc lạc lơng trong rừng bam đêm, thằng bé được dạy là phải cầu nguyện sự bảo vệ che chở của Đức Chúa Trời.
Ngày thằng bé biết đọc cũng là ngày mà cha và ông nó được nghe Lời của Chúa trong sách Giăng, biết được điều ǵ th́ họ nói lại với những người chung quanh. Rồi thằng bé tốt nghiệp trường Tiểu học. Nó là đứa trẻ có học thức cao nhất và văn minh nhất trong bộ lạc. Cha nó lại tiếp tục bắt nó học thêm. Và nó lại tiếp tục chạy như bay mỗi ngày, băng qua rừng, băng qua làng, để đến tỉnh theo học Trung học mỗi ngày.
Những năm tháng dài cực khổ kể sao cho hết, khi cha nó là người duy nhất phải t́m thức ăn cho cả nhà, cũng như t́m các sản phẩm để trả những chi phí cho nó được đi học. Rồi nó tốt nghiệp Trung học, trở thành người được tôn trọng và ngưỡng mộ nhất trong tất cả các bộ lạc ở dọc biên giới, các làng mạc xa gần, kể cả các tỉnh nhỏ. Chàng thanh niên có thể t́m được việc làm dể dàng trong các công sở và sống một đời sống thoăi mái trong tỉnh cũng như tại các thành phố, nhưng chàng quyết định tiếp tục việc học. Anh từ bỏ bộ lạc để chính thức gia nhập vào cuộc sống văn minh đô thị, để theo học tại một trường Đại học ở thành phố.
Sau khi tốt nghiệp Đại học, anh được sự mời gọi của rất nhiều tổ chức chính phủ cũng như nhiều công ty tư nhân. Vào khoảng thời gian này, tại các tỉnh thuộc biên giới Hoa Ấn, số người tốt nghiệp Đại học cũng chỉ đếm được trên đầu các ngón tay.
Nhưng người Cơ-Đốc trẻ tuổi có một tiếng gọi thiêng liêng hơn. Sự ngu dốt man rợ của bộ lạc và của đám đông dân chúng nghèo khổ dọc biên giới, lúc nào cũng ghi khắc trong trí nhớ của anh. Sự biến đổi lạ lùng của ông nội, đức tin kỳ diệu của người cha, và sự cố gắng cực kỳ khó khăn của họ để vâng theo sự dạy dỗ của Chúa, lúc nào cũng ám ảnh anh. Anh quyết định bỏ qua tất cả những cám dỗ của cuộc sống văn minh, trở về rừng rậm làm một cuộc thay đổi.
Anh tin tưỡng rằng, nếu Chúa đă ban cho anh sự khôn ngoan và dư dật, chắc chắn Chúa cũng sẽ ban thịnh vượng cho những xă hội biết tin nhận Ngài.
Sau đó, những biến chuyển thời cuộc và nhu cầu sống c̣n, đă khiến cho các bộ lạc dọc biên giới kết hợp lại cùng với các dân du mục Trung-hoa, Ấn-độ để trở thành một cộng đồng riêng biệt có tên là HMAR với dân số ngày nay khoảng 150,000 người.
Dr. Pudantie, người thanh niên ấy, đă ở lại với đồng bào của anh, phục vụ công tác rao giảng Tin lành của Đức Chúa Trời, và phục vụ cộng đồng HMAR trong các lănh vực Phát triển, Cứu trợ và Giáo dục. Cho đến 1996, 86 năm sau ngày Lời của Chúa được giảng ra trong rừng rậm, Dr. Pudantie thành lập được 227 nhà thờ, 65 trường Trung và Tiểu hoc, 1 Đại học, 2 nhà thương. 90% trong số 150,000 người Hmar biết đọc biết viết, và 80% là Cơ-Đốc nhân. Cộng đồng HMAR được kể như là một cộng đồng văn minh và thịnh vượng dọc biên giới Hoa Ấn. Đại học HMAR là một trong những học viện có tầm vóc so với các Viện Đại học chung quanh. Quốc gia Tây Tạng cũng có đặt Ṭa Lănh sự tại đây.
Dr. Pudantie cũng đă t́m đến người giáo sĩ năm xưa tại Canada để giao lại quyển sách Giăng cũ. Những giọt nước mắt đă rơi trên tập Kinh thánh gần hư nát. Người giáo sĩ già dù trong giấc mộng cũng không thể nào ngờ được, những hạt giống Đạo mà ḿnh đă gieo vội vàng trong cuộc phiêu lưu mạo hiểm thời trai trẻ, đă nẩy mầm để trở thành cổ thụ như ngày hôm nay.
(Câu chuyện do chính Dr. Puantie kể lại trong khi đem Ca đoàn thiếu nhi HMAR viếng thăm Orange County, California vào mùa thu 1996)
Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Đức Tin & Việc Làm | |
|
|
|