Trang Nha - Home

Truyen Thanh - Radio

Truyen Hinh - TV

Thanh Kinh - Bible

Doc - Read

So Sanh - Comparison

Quan Trong - Importance

Doi Song - Your Life

Tra Loi Thac Mac - Q & A

Than Hoc - Theology

Dang Tao Hoa -The Creator

Chua Gie-su La Ai?

Chua Tinh Yeu -Loving God

Phuc Am Doi Doi

28 Tin Dieu - 28 Beliefs

60 Du Kien Sabat

Ai Doi Ngay Thanh?

Thac Mac Ve Sabat

Tai Lieu - Publications

Hoi Thanh - Church US

Loma Linda Church

Orange County Church

San Diego Church

Tu Gia - Housechurch VN

Tuyen Ngon - Declarations

Tu Gia - Housechurches VN

Nhac Tu Gia - Music

Cuu Tro - Humanitarian

Lanh Dao - Leadership

Thanh Nhac - Music

Thong Tin - News

Health (English)

Lien Lac - Contact

Gioi Thieu - ABout Us

Su Mang-Mission

Muc Tieu-Goal

To Chuc-Organization

Lich Su-History

Uy Thac-Commission

An Binh Hanh Phuc (Peace & Happiness Ministry)

Phuc Am Doi Doi Cho Nguoi Viet ( Everlasting Gospel To The Vietnamese People)




DẤU VẾT ĐẤNG TẠO HÓA TOÀN NĂNG HIỆN HỮU


 (MS Dương Quốc Tùng)



Thượng Đế Toàn Năng có hiện hữu chăng? Những bộ óc thông minh của nhân loại tranh luận về vấn đề nầy. Những nhà giáo dục bàn tán sôi nổi về lănh vực nầy. Loài người phân chia giới tuyến v́ khác biệt trong niềm tin có một Đấng Tuyệt Thông Minh Tối Thượng hiện hữu trong vũ trụ. Con người và vũ trụ đến từ đâu? Được tạo dựng bởi một Đấng Tạo Hóa hay do ngẫu nhiên (tiến hóa) mà hiện hữu?

A. NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ TIẾN HÓA

1) Tiến Hóa chỉ là một lư thuyết

Lầm lẫn đầu tiên của con người là coi Tiến Hóa như là một định luật tuyệt đối. Chúng ta cần phải lưu ư là Tiến Hóa chỉ là một lư thuyết chứ không phải là một định luật bất di bất dịch. Cho đến nay, dù với sự văn minh vượt bực của khoa học, với những máy móc tinh vi, các khoa học gia cũng chưa thể chứng minh rằng Tiến Hóa là một định luật không ai có thể chối căi được. Tiến Hóa cũng chỉ là lư thuyết với nhiều kẽ hở, phải được biến đổi mỗi ngày theo tên của nó để có thể tồn tại hợp thời được.


2) Các khoa học gia cũng là con người

Lầm lẫn thứ hai của chúng ta là quan niệm cho rằng những khoa học gia là những thần thánh. Họ được đứng ra ngoài những cảm giác tâm t́nh b́nh thường của một con người b́nh thường.

Chúng ta cũng cần nhớ rằng các khoa học gia cũng là con người. Họ cũng bị ảnh hưởng bởi thành kiến, chi phối bởi môi trường sống và t́nh cảm. Khả năng nhận xét của họ cũng bị giới hạn. Một khoa học gia được trưởng thành trong một bối cảnh vô thần đương nhiên sẽ diễn dịch các sự kiện ḿnh thấy theo truyền thống ḿnh đă được huấn luyện. Một người tin vô thần, không thể nào diễn dịch một sự việc để chứng minh rằng có thần thánh hiện diện được. Hơn thế nữa, những kết luận của khoa học cũng bị lỗi thời theo thời gian bởi kiến thức mới. Những khám phá mới có lúc chứng minh rằng khám phá trong quá khứ sai lầm. Chẳng hạn như thuyết Phlogiston nói rằng những vật thể có khả năng cháy v́ có chứa một yếu tố pháp thuật trong nó. Sau đó nhà hóa học Lavoisier của Pháp, chứng minh rằng không khí chính là chất chính yếu làm cho cháy.

3) Phương pháp khoa học & tiến hóa

Điều kế tiếp chúng ta cần phải lưu ư là chúng ta không thể dùng phương pháp khoa học để chứng minh bất cứ lư thuyết nào về sự khởi thủy của vạn vật. Phương pháp khoa học đ̣i hỏi phải có sự quan sát và thí nghiệm (lập lại trong pḥng thí nghiệm). Không một ai có thể quan sát hay lập lại trong pḥng thí nghiệm về khởi thủy của vũ trụ là những sự kiện xảy ra quá lâu, và không có nhân chứng hiện diện. Khoa học gia chỉ có thể quan sát những ǵ đang xảy ra, nhưng họ chỉ có thể phỏng đoán về quá khứ hay tương lai. Phỏng đoán th́ không thể là một tiêu chuẩn để người khác phải lấy đó làm thước đo. Nhưng nhiều lúc nhân danh khoa học, những phỏng đoán của khoa học gia trở thành một kim chỉ nam cho hậu sanh. Điều phỏng đoán của một khoa học gia tiền bối vô t́nh trở thành một định luật cho lớp hậu bối.

4) Cần có niềm tin để chấp nhận

Thuyết tạo thế hay thuyết tiến hóa cũng cần phải có niềm tin để chấp nhận. Nhà vạn vật học Anh quốc Harrison Matthews đă viết những lời giới thiệu cho lần xuất bản năm 1971 của quyển Origin of Species (Nguồn Gốc Các Chủng Loại) của Darwin như sau:

“Niềm tin trong thuyết tiến hóa, cũng song song y hệt như niềm tin trong sự tạo thế, cả hai tư tưởng đều được người tin nhận cho rằng là một sự thật, nhưng cho đến giây phút nầy, không ai có khả năng để chứng minh.” (Matthews, L.H., The Origin of Species, (Introduction) by Charles Darwin, J.M. Dent and Sons, Ltd., London, 1971, trang 10)

Tuy thế, tin vào một Đấng Tạo Hóa vẫn có lư và dễ tin hơn là tin vào thuyết tiến hóa. (Chúng ta sẽ bàn về vấn đề nầy trong phần kế tiếp).
Một điều khác chúng ta cũng cần ghi nhớ là khi đa số chấp nhận một vấn đề, không nhất thiết vấn đề đó phải là sự thật. Sự thật là sự thật, không tùy thuộc vào đám đông, không tùy thuộc vào khả năng hay giai cấp của người chấp nhận.


B. NHỮNG BẤT LỰC CỦA THUYẾT TIẾN HÓA


Có ba điều mà thuyết tiến hóa không giải thích được: 1) khoảng cách giữa vô không và vật thể; 2) khoảng cách giữa vật thể và sự sống; 3) khoảng cách giữa loài người và các sinh vật thấp hơn
.

1) Khoảng cách giữa vô không và vật thể

Tại sao từ không ra có? Từ chỗ vô h́nh ra vật thể. Làm sao bạn có thể chứng minh được 0 nhân 0 thành một vật ǵ đó. Tự nhiên không không trở thành có vạn vật? Theo toán học zero nhân zero phải là zero. Điều luật căn bản của khoa học là từ số không sẽ đến số không. Sự sống mới sinh ra sự sống. Không gieo mà gặt, không có mà cho là có, là phản khoa học và phản suy luận.

2) Khoảng cách giữa vật thể và sự sống

Tại sao từ vật thể vô t́nh ra được sự sống? Sự sống đến từ đâu. Một cục đá để nằm đó hàng tỉ năm vẫn là cục đá, hay có thể bị ăn ṃn hết. Nhưng làm sao cục đá đó biết đi, biết chạy, biết nói, biết yêu thương, biết giận hờn? Sự sống đến từ đâu?

Điều luật thứ hai của nhiệt động lực (thermodynamics) cho biết năng lực sẽ giảm đi và vật thể nếu để một ḿnh sẽ trở nên hư thối, lộn xộn. Nói cho dễ hiểu, nếu một vật thể để một ḿnh, nó có khuynh hướng xuống dốc, và hư hại. Một bắp thịt không tập luyện, không hoạt động sẽ bị hư. Một khu vườn không được săn sóc sẽ trở nên vô trật tự, hỗn độn. Trong khi đó thuyết tiến hóa cho rằng vật thể nếu để một ḿnh sẽ tự động tổ chức và biến thể từ chỗ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ thấp đến chỗ cao, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ chỗ vô trật tự vô tổ chức, đến chỗ tự nhiên có tổ chức trật tự.

Những người tin vào thuyết tiến hóa cho rằng, nếu cho thời gian đủ lâu, th́ bất cứ việc ǵ cũng có thể xảy ra. Nhưng sự thật có như vậy chăng?

Giả sử bạn bay trên máy bay và thả xuống đất 100.000 tờ giấy trắng. Rồi bạn bay lên cho thật cao, gắn thêm dù vào trong mỗi tờ giấy để thời gian những miếng giấy bay xuống đất đủ lâu. Đến khi bay xuống tới mặt đất, tự nhiên những mảnh giấy kết hợp lại thành tên của bạn? Bạn có thể tin được chuyện nầy chăng? Chưa kể đến vấn đề giấy từ đâu có? Ai bay máy bay? Máy bay ở đâu? Tại sao những mảnh giấy đó phải rớt thành tên của bạn? Ai quyết định điều đó? Ngoài ra c̣n biết bao nhiêu điều kiện khác cần phải được hội đủ.

Mỗi tế bào trong cơ thể của chúng ta c̣n phức tạp gấp trăm gấp ngàn lần sự kết hợp của tên họ chúng ta từ những tờ giấy trắng bay giữa không gian, hay phức tạp hơn cả chiếc đồng hồ đeo tay. Trong mỗi tế bào có chứa đựng những di truyền tính DNA để cấu tạo nên con người. Cơ thể chúng ta có trên 30.000 tỉ tế bào. Mỗi tế bào có 46 nhiễm sắc thể (chromosomes). Hoạt động trong mỗi tế bào phức tạp tương đương những ǵ xảy ra mỗi ngày trong một thành phố cỡ lớn như Chicago hay Tokyo. Walter T. Brown viết, “Những dữ kiện di truyền chứa trong mỗi tế bào tương đương với một thư viện có khoảng 4.000 quyển sách.” (Walter T Brown, In The Beginning, (Naperville, Ill.: ICR, Midwest Center, 1981) trang 3). Nếu chúng ta nhân số dữ kiện đó lên 30.000 tỉ tế bào, chúng ta sẽ thấy sự phức tạp trong cơ thể con người quá vĩ đại để có thể do ngẫu nhiên mà thành.

Nếu cho rằng chừng đó dữ kiện hay tin liệu trong cơ thể được cấu tạo bởi sự ngẫu nhiên theo thời gian, th́ không thể nào tin được. Dù cho chúng ta có cho thời gian dài bao nhiêu đi nữa, sự việc cũng không thể có được.

Để biện minh cho sự kiện khó tin nầy, các khoa học gia tiến hóa giải thích rằng biến sắc thể (mutant) chính là câu trả lời. Một cơ cấu thay đổi xảy ra để một vật biến thành một vật phức tạp hơn. Tuy vậy, đa số những thay đổi trong thiên nhiên đều chứng minh ngược lại, tức là thay đổi dẫn đến bất lợi cho sự sống, ngoại trừ vài trường hợp trong vi trùng và vi khuẩn.

Nan
đề thứ hai của sự biến sắc thể (mutation) là thế hệ con cháu không hưởng được những thay đổi trong những thế hệ trước, ngoại trừ vài trường hợp trong vi trùng. Nói cách khác, thay đổi trong cha mẹ chưa chắc đă được truyền qua cho con cái. Những ǵ cha mẹ học hỏi được không phải tự nhiên con cái sanh ra là có như vậy, mà chính con cái cũng phải học hành, tiếp thu.

Nan
đề thứ ba của sự biến sắc thể là sự thay đổi không đơn giản như những nhà tiến hóa giải thích. Vảy cá không phải chỉ đổi thành lông chim một cách dễ dàng như vậy. Nhiều yếu tố khác phải xảy ra đúng lúc để sự thay đổi mới có ích lợi. Ví dụ giả thuyết vảy cá đổi thành lông chim. Không phải chỉ một vấn đề đơn giản như vậy thôi, mà cánh chim phải được mọc ra, cấu trúc của xương phải nhẹ lại, bộ óc phải biết điều khiển cách bay ...

Lấy ví dụ của con người, bộ phận nào trong con người tiến hóa trước, hệ thống thần kinh, hay tim, phổi, bao tử, hay gan? Tay chân cái nào có trước? Mắt, mũi, miệng cái nào có trước? Làm sao mỗi bộ phận biết trách nhiệm của riêng nó mà thi hành? Mỗi bộ phận trong cơ thể đều tùy thuộc vào nhau, th́ cơ quan nào tiến hóa trước, cơ quan nào sau? Yếu tố nào quyết định những điều nầy?

Trong quyển Darwin’s Black Box, nhà hóa học sinh lư (biochemist) Michael Behe dùng thí dụ cái bẫy chuột để chứng minh rằng thuyết tiến hóa là một điều không thể xảy ra được. Muốn bắt một con chuột, chúng ta phải cần có tất cả bộ phận của một cái bẫy. Chúng ta không thể nào bắt vài con chuột bằng sàn bẫy, rồi sau đó cộng thêm cái ḷ xo, rồi bắt thêm một số con chuột khác, rồi cộng thêm cái kẹp. Cái bẫy chuột phải có đủ mọi bộ phận trước khi nó có thể thi hành chức năng của nó. Các tế bào, các bộ phận trong cơ thể sinh vật, cực kỳ phức tạp tinh vi. Sự sống và thi hành chức năng không thể nào xảy ra từ từ được. Muốn sống phải có đủ mọi sự, không thể có máu chảy mà không có mạch máu, rồi từ từ mới có không khí. Không thể có máu, mà không có tim hay phổi. Mọi bộ phận phải hiện diện cùng lúc để sự sống có thể bắt đầu được.

Một Đấng Tạo Hóa phải hiện diện và tạo dựng mọi sự cần thiết cho sự sống và bắt đầu sự sống đó.

3) Cách biệt giữa con người và sinh vật khác

Người tin thuyết tiến hóa không tin vào sự hiện diện của lănh vực tâm linh và luân lư đạo đức trong con người, v́ lănh vực thiêng liêng tâm linh không thể phát nguồn từ vật thể vô t́nh. Họ cho rằng tư tưởng của chúng ta chẳng qua là sản phẩm của những phản ứng hóa học mà thôi. Như thế, những người tin tiến hóa cho rằng vật thể có thể suy nghĩ.

Nếu vật thể biết suy nghĩ, chúng ta sẽ không chịu trách nhiệm và không kiểm soát được tư tưởng của chúng ta, v́ chúng ta không kiểm soát được những phản ứng hóa học là những sự kiện được quyết định bởi các định luật thiên nhiên. Như vậy, tư tưởng chỉ là trung ḥa, không có điều tốt và điều xấu. Luân lư không hiện hữu. Điều phải và trái không hề có. Sống sao cũng được. Như thế không cần luật pháp, chánh quyền, luân lư đạo đức trong xă hội.

Nhưng trên thực tế, khác với mọi loài sinh vật khác, con người của chúng ta sống có luân lư đạo đức, phải trái. Chính những người tin trong tiến hóa, cũng có người sống có luân lư, hành động cũng phải có chánh nghĩa. Tư tưởng đạo đức, luân lư của con người đến từ đâu? Những nguyên tử vô t́nh làm sao phát xuất được cảm xúc, lẽ phải, điều trái, có nghĩa cử trong đời sống được? Luân lư đạo đức đến từ đâu? Thuyết tiến hóa không giải thích được điều nầy.
C. KINH THÁNH VÀ KHOA HỌC

1) Nguyên nhân của mâu thuẫn

Kinh Thánh và khoa học không thể mâu thuẫn với nhau được, v́ cả hai đều có chung một tác giả là Thượng Đế Toàn Năng. Mâu thuẫn, nghịch lư xảy ra v́ một trong ba lư do sau: 1) Có những người không giải nghĩa Kinh Thánh cách cẩn thận khi tra cứu từng lời trong Kinh Thánh. Ví dụ: không một chỗ nào trong Kinh Thánh cho rằng thế giới được tạo dựng cách đây khoảng 4.000 năm, nói cho chính xác tức là vào năm 4.004 trước Công nguyên; 2) Có những học giả Kinh Thánh đi quá xa, t́m cách dung ḥa giữa thuyết tiến hóa và Kinh Thánh, v́ thế mà tạo nên nhiều mâu thuẫn; 3) Nhiều khoa học gia đi theo chủ nghĩa nhân bản hay vô thần, v́ thế hễ điều ǵ có liên quan đến Đấng Tạo Hóa phải được loại trừ ngay lập tức.

2) Kinh Thánh và tạo thế

Kinh Thánh tuyên bố rằng, “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” (Sáng thế Kư 1:1). Trong một câu ngắn ngủi, Kinh Thánh đă bài bác những lư thuyết sau:
                a) Vô thần thuyết (v́ vũ trụ được Đức Chúa Trời dựng nên)
                b) Phiếm thần thuyết (v́ Đức Chúa Trời riêng biệt với những vật Ngài tạo dựng)
                c) Đa thần thuyết (v́ chỉ có một Đức Chúa Trời tạo dựng muôn vật)
                d) Duy vật chủ nghĩa (v́ muôn vật có sự bắt đầu)
                e) Nhân bản chủ nghĩa (v́ Đức Chúa Trời mới là một thực thể độc lập và cao nhất)
                f) Tiến hóa thuyết (v́ Đức Chúa Trời tạo dựng nên muôn vật)

Nếu chúng ta không tin rằng Đức Chúa Trời tạo dựng nên muôn vật, th́ chúng ta phải tin một trong hai điều sau: 1) Thuở đầu tiên vũ trụ nầy không có ǵ hết (vô h́nh, hư không) và từ chỗ vô h́nh, không không nầy vạn vật thành h́nh; 2) Chúng ta không có sự giải thích cho sự hiện hữu của mọi vật, những ǵ ta thấy đến từ những ǵ vô t́nh, không cá nhân tính, ngẫu nhiên mà ra. Chúng ta có mặt nơi đây với mục đích ǵ? V́ sống không có mục đích, nên cuộc sống trở thành vô nghĩa.
3) Điều kiện để sống trên trái đất của chúng ta

Kinh Thánh tuyên bố rằng, “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” (Sáng thế Kư 1:1) Thượng Đế tạo dựng nên thế giới nầy để cho người ở (Êsai 45:18), v́ thế Ngài tạo ra những điều kiện cần thiết để bảo vệ và duy tŕ sự sống trên đất nầy mà cho đến ngày nay khoa học chưa t́m thấy được trên một hành tinh nào trong vũ trụ.

Trái đất đối với vũ trụ giống như một hạt cát trong đại dương cát bao la của thế giới. Nhưng trái đất được phác họa đặc biệt cho sự sống nói chung, và cho chính loài người nói riêng. Trái đất là một trái banh khổng lồ, được bao bọc bởi nước, đá, đất, và chung quanh là không khí.

Khi chúng ta đi xe, chúng ta thấy mọi vật bên ngoài đều chạy ngược lại. Nhưng khi đứng trên mặt đất, chúng ta không hề cảm nhận một sự di chuyển nào, v́ tất cả những ǵ bên ngoài chúng ta đều di chuyển hết. Trái đất giống như một trái banh chạy chung quanh mặt trời theo một quỹ đạo h́nh bầu dục, và đồng thời trái đất cũng xoay chung quanh chính nó. Trái đất quay chung quanh mặt trời với một tốc độ là 19 dặm hay khoảng 30 cây số một giây, tức là khoảng 66.000 dặm hay 105.600 km một giờ. Trái đất làm cuộc hành tŕnh một ṿng chung quanh mặt trời hay 595 triệu dặm hay 944.000 km trong thời gian 365 ngày, 6 giờ, 9 phút, 54 giây. (Cứ 4 năm, chúng ta có một năm nhuận để bù lại số thời gian dư ra, hầu điều chỉnh vị trí của trái đất đúng với vị trí của các thiên thể trong vũ trụ). Chu kỳ xoay chung quanh mặt trời rất chính xác, không lệch không sai một giây. Khoảng cách giữa trái đất và mặt trời vừa vặn để hổ trợ sự sống trên mặt đất. Trái đất không quá gần mặt trời, kẻo sự sống sẽ bị thiêu đốt, và không quá xa, kẻo tất cả sẽ bị đông lạnh.

Đường thẳng tưởng tượng giữa Bắc cực và Nam cực là một trục nghiêng khoảng 23,5 độ so với mặt trời. Nhờ độ nghiêng nầy mà chúng ta có bốn mùa. Đây là điều cần thiết để tạo thời tiết thuận lợi cho việc trồng tỉa, cung cấp ẩm thực.

Trong khi trái đất xoay chung quanh mặt trời với tốc độ khoảng 105.600 km một giờ, th́ nó cũng xoay chung quanh nó với tốc độ 1.600 cây số một giờ tại đường xích đạo. Sự di chuyển nầy khiến chúng ta thấy mặt trời dường như đi từ đông sang tây, và trái đất có ngày và đêm. Nếu trái đất chậm lại khoảng 1/10 tốc độ hiện tại của nó, tất cả cây cối sẽ bị đốt cháy hết vào ban ngày và ban đêm sẽ bị đông lạnh.

Hơn thế nữa nhiệt độ của trái đất được duy tŕ trong một giới hạn nào đó nhờ hơi nước và carbon dioxide trong khí quyển, tạo ra “tác dụng nhà kiếng” (green house effect) duy tŕ nhiệt độ lư tưởng cho sự sống.

Nếu chúng ta hỏi rằng điều ǵ khiến cho mặt trời, mặt trăng, cùng trái đất có được sự di chuyển chính xác như vậy, các khoa học gia sẽ trả lời rằng đó là v́ hấp lực. Nếu không có lực nầy, th́ các thiên thể trong không gian sẽ bay vào không gian vô tận, rồi sẽ tông vào nhau và nổ tung. Trái đất chúng ta sẽ không được an toàn.

Mặt trăng xoay chung quanh trái đất với một khoảng cách 240.000 dặm (384.000 km), gây ra thủy triều trên mặt đất. Nếu khoảng cách được thu ngắn lại khoảng 1/5, các lục địa sẽ bị nhận ch́m dưới nước biển hai lần mỗi ngày.

Lớp ozone ở thượng tầng khí quyển giống như một lớp bảo vệ trái đất, ngăn chận tia tử ngoại nguy hiểm của mặt trời không cho hủy diệt sự sống trên mặt đất. Ngoài ra lớp khí quyển bên ngoài trái đất cũng giống như lớp áo giáp bảo vệ trái đất bằng cách hủy diệt khoảng 20 triệu vẫn thạch mỗi ngày tông vào trái đất với tốc độ khoảng 30 dặm (48 km) mỗi giây. (Riegle, D.D., Creation or Evolution, Zondervan Publishing House, Grand Rapids, Michigan, 1971).
Bầu khí quyển của trái đất cũng được cấu tạo ở một tỉ lệ lư tưởng cho sự sống: 78% là khí nitrogen, và 20% là khí oxygen, 2% là những khí khác. Đây là tỉ lệ lư tưởng để duy tŕ sự sống trên mặt đất.

Thể tích của trái đất cũng rất quan trọng. Nếu trái đất lớn hơn 10% hay nhỏ hơn 10%, sự sống sẽ không tồn tại được.

Quư vị có bao giờ cảm tạ Chúa đă dựng nên Mộc tinh trong Thái Dương hệ chăng? Mộc tinh chận lại những sao chổi có thể đụng trái đất. Hấp lực từ Mộc tinh rất mạnh, thay đổi hướng đi của những thiên thể băng giá trong sao chổi, đem quăng ra ngoài trung tâm của Thái Dương hệ. Nếu không có Mộc tinh, tỉ lệ va chạm giữa các sao chổi và trái đất sẽ tăng lên cả ngàn lần.
4) Vũ trụ

Chúng ta nh́n bầu trời về ban đêm vào tháng giêng khác hẳn bầu trời ban đêm vào tháng bảy. Kích thước của các ngôi sao và khoảng cách của chúng đối với trái đất vượt quá xa sự tưởng tượng của chúng ta. Mặt trời của chúng ta là ngôi sao gần chúng ta nhất, cách địa cầu độ chừng 93 triệu dặm (khoảng 149 triệu km). Ngôi sao gần kế đó cách xa trái đất khoảng 250.000 lần nhiều hơn khoảng cách giữa trái đất và mặt trời. Nếu chúng ta có thể đi một phi thuyền với tốc độ của ánh sáng, tức khoảng 186.000 dặm (300.000 km) một giây, chúng ta sẽ cần 8 phút để đến mặt trời, và 4 năm (hay 4 năm ánh sáng) để đến ngôi sao gần kế.

Chúng ta không biết vũ trụ có bao nhiêu ngôi sao. Nhưng chúng ta hăy tưởng tượng, giải Ngân Hà của chúng ta, nơi mà Thái Dương hệ là một phần rất nhỏ, có khoảng hơn 100 tỉ ngôi sao. Đường kính của giải Ngân Hà dài khoảng 100.000 năm ánh sáng. Đây là một giải thiên hà nhỏ, so với những giải thiên hà khác trong vũ trụ. Ngày hôm nay khoa học ước tính khoảng 10 triệu giải thiên hà trong vũ trụ, mỗi giải thiên hà có trên hàng trăm triệu ngôi sao.
Nếu chúng ta đi trên một phi thuyền với tốc độ của ánh sáng, chúng ta có thể đi 100 năm, rồi 1.000 năm, rồi 100.000 năm, rồi 1.000.000 năm, rồi hàng triệu năm. Nếu chúng ta đi được khoảng 20 tỉ năm, chúng ta chỉ mới tới ven b́a của vũ trụ. Bên ngoài vũ trụ đó chúng ta không biết là ǵ. Kinh Thánh chỉ cho chúng ta biết rằng, bên ngoài vũ trụ là từng trời thứ ba, tức là nơi Thượng Đế Toàn Năng ngự trị hay chốn thiên đàng (II Côrinhtô 12:2,4).

D. KẾT LUẬN

“Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đă làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến.” (Hêbơrơ 11:3)

“Ôi! chỉ một ḿnh Chúa là Đức Giê-hô-va có một không hai; Chúa đă dựng nên các từng trời, và trời của các từng trời, cùng toàn cơ binh của nó, trái đất và các vật ở trên nó, biển và muôn vật ở dưới nó; Chúa bảo tồn những vật ấy, và cơ binh của các từng trời đều thờ lạy Chúa.” (Nêhêmi 9:6)
“Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được! V́, ai biết ư tưởng Chúa, ai là kẻ bàn luận của Ngài? Hay là ai đă cho Chúa trước, đặng nhận lấy điều ǵ Ngài báo lại? V́ muôn vật đều là từ Ngài, bởi Ngài, và hướng về Ngài. Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng! A-men.” (Rôma 11:33-36)

Mục Sư Dương Quốc Tùng
Copyright by Peace & Happiness Ministry
All Rights Reserved

CON LẠC ĐÀ KỲ DIỆU


Khi tôi đói bụng, tôi có thể ăn bất cứ vật ǵ, từ dây cương bằng da, một sợi dây thừng, túp lều của chủ tôi, cho tới những đôi giầy bằng da. Miệng của tôi được tạo rất khoẻ và dày, ngay cả những cây gai trong sa mạc cũng chẳng ảnh hưởng ǵ. Tôi là một con lạc đà gù lưng sống trong miền sa mạc nóng bỏng của Trung Đông.

Cái lưng gù của tôi cân nặng khoảng 36 kilôgram và đầy những chất mỡ, chứ không phải nước! Đấng Tạo Hoá kỳ diệu đă tạo dựng tôi như vậy để cơ thể tôi tự động dùng số mỡ lưu trữ nầy làm chất dinh dưỡng khi tôi không thể t́m một vật ǵ để ăn. Dĩ nhiên khi tôi dùng số mỡ nầy th́ cái lưng gù của tôi sẽ nhỏ lại. Nhưng khi tôi t́m được chỗ nghỉ ngơi và ăn uống th́ lưng gù của tôi sẽ lớn lên trở lại.

Nước uống rất hiếm trong sa mạc mênh mông này. Đôi khi tôi phải nhịn tới tám ngày mới có được một giọt nước uống. Dĩ nhiên tôi rất là mệt nhọc; xương sườn của tôi lộ hẳn ra ngoài; và tôi có thể sụt xuống tới 102 kilôgram. Nhưng khi tôi t́m được nước uống, tôi có thể uống tới 108 lít nước trong ṿng 10 phút và lấy lại 102 kilôgram đă mất lập tức. Tôi đă được dựng nên để sống trong vùng sa mạc nóng bỏng và cằn cỗi kia.

Người ta dùng tôi để di chuyển v́ tôi có thể đi qua những đụn cát trong sa mạc dễ dàng. Đấng Tạo Hóa đă cho tôi đôi giày "cát". Hai xương dài ở ngón chân của tôi được ngăn cách bởi một miếng da rất dày. Móng của chân tôi rất rộng và chúng trải ra mỗi khi tôi bước đi, cho nên tôi không bị lún xuống những đụn cát ở sa mạc.

Những trận băo cát quét ngang sa mạc cũng không gây rắc rối ǵ mấy cho tôi. Đấng Tạo Hoá đă tạo một bắp thịt đặc biệt trong mũi tôi để lọc cát ra và chỉ cho vừa đủ không khí vào mà thôi.

Đấng Tạo Hoá cũng cho tôi một cặp lông mi rất dài để che mắt tôi khỏi các cơn gió cát ở sa mạc. Nếu có một hạt cát nào lọt vào trong mắt tôi, Đấng tạo tôi đă cho tôi thêm một cặp mí mắt bên trong và nó tự động lau sạch bụi cát trong tṛng mắt tôi như những cánh quạt nước của kiếng xe hơi.

Nhiều lúc tôi tự hỏi và lấy làm khó hiểu tại sao người ta lại bảo rằng tôi được tiến-hoá (evolve) từ những sinh vật đơn giản khác qua một thời gian dài trong quá khứ. Tôi là một con lạc đà rất phức tạp và được trang bị đầy đủ. Một cơ thể như tôi không thể nào được thành h́nh bởi sự may rủi (by chance). Đấng Tạo Hóa định ư cho tôi sống trong sa mạc và Ngài đă tạo ra tôi như thế.

Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Đức Tin & Việc Làm


ĐẠO CỦA SỰ BIẾT



Thi sĩ Nguyễn Khuyến đă để lại những câu thơ sau,
"Thế sự đua chen nói dại khôn"
"Biết rằng ai dại biết ai khôn,"
"Khôn nghề cờ bạc là khôn dại,"
"Dại chốn văn chương ấy dại khôn."

Trang Tử th́ bảo rằng, "Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết mới sống."

Một hôm Trang Tử cùng với học tṛ đi chơi ở trong núi, thấy một cây to, cành lá rườm rà, có người đốn gỗ, chống búa đứng bên, nhưng không chặt. Trang Tử bèn hỏi: "Tại sao không chặt cây nầy?"

Người đốn cây trả lời, "Cây nầy tuy lá sum suê nhưng gỗ xấu không dùng được việc."

Trang Tử mới nói rằng, "Cây nầy v́ vô ích mà được sống lâu."

Ra khỏi núi, Trang Tử vào chơi nhà một người quen. Chủ nhà vui mừng, bảo người nhà đem chim nhạn làm thịt để đăi khách. Người nhà hỏi, "Một con biết gáy, một con không biết gáy, nên làm thịt con nào?". Chủ đáp rằng, "Nên làm thịt con không biết gáy."

Hôm sau ra về, học tṛ hỏi Trang Tử rằng, "Cây ở núi v́ vô ích bất tài mà được sống lâu, nhạn ở nhà v́ vô ích bất tài mà bị giết. Giá như thầy th́ phải xử trí như thế nào?"

Trang tử đáp rằng, "Tài và bất tài đều cũng như nhau... Hợp với người th́ có lúc ĺa tan; làm nên việc, th́ có người nghị luận; ngay thẳng th́ bị chèn ép; đàng hoàng th́ bị chê bai; làm th́ có kẻ phá; giỏi th́ có kẻ ghen; không ra ǵ th́ thiên hạ lại khinh dể... Chỉ có kẻ nào biết, mới sống mà thôi."

Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết mới sống.

Vua Sa-lô-môn, người được nổi tiếng v́ sự khôn ngoan của ḿnh, cũng thốt lên rằng, "Vả, ta thấy sự khôn ngoan hơn sự ngu dại, cũng như ánh sáng hơn tối tăm. Người khôn ngoan có con mắt trong đầu ḿnh, c̣n kẻ ngu muội bước đi trong tối tăm; dầu vậy, ta nh́n thấy hai đàng cùng gặp một số phận về sau. Nên ta có nói trong ḷng rằng: Sự xảy đến cho kẻ dại, sẽ xảy đến cho ta cũng vậy; vậy, ta có nhiều sự khôn ngoan như thế mà làm chi? Ta lại nói trong ḷng rằng: Đều đó là một sự hư không nữa. V́ người ta chẳng nhớ người khôn ngoan đến đời đời, cũng như chẳng nhớ kẻ ngu muội; v́ trong ngày sau cả thảy đều bị quên mất từ lâu. Phải, người khôn ngoan chết cũng như kẻ điên cuồng?" (Truyền đạo 2:13-16)

Khôn cũng chết, dại cũng chết, giàu cũng chết, nghèo cũng chết, học thức cũng chết, b́nh dân cũng chết, quân tử cũng chết, tiểu nhân cũng chết. Biết mới sống.

ĐẠO CỦA SỰ BIẾT.

Biết! Phải tuỳ cái biết mới dẫn đến sự sống và sự sống đây là sự sống của tâm linh chúng ta. Biết để dẫn đến sự sống tâm linh gồm hai giai đoạn: Thứ nhất là biết ḿnh, kế đến là biết ai giúp cho ḿnh t́m được sự sống.

Trong cái đạo của Sự Biết, biết ḿnh là bước đầu tiên cần thiết nhất. Nước Việt có nàng Tây Thi, nhan sắc tuyệt trần. Nàng có chứng đau bụng, mà khi nào đau, ôm bụng nhăn mặt, th́ lại càng quyến rũ hơn. Có người đàn bà ở xóm Đông thấy vậy mới bắt chước, về nhà cũng ôm bụng và nhăn mặt. Mọi người kinh hoàng tưởng là ma quỉ, người giàu th́ đóng cửa, cài then chặt chẽ, người nghèo th́ bồng bế nhau, chạy trốn.

Biết ḿnh là chấp nhận cái hữu hạn của khả năng, của những việc ḿnh có thể làm được. Muốn biết ḿnh, không ǵ hay bằng nhận thấy được bản ngă tư kỷ, nhận thấy được ḿnh không phải là thánh nhân, nhận thấy được ḿnh có nhiều nhược điểm và có nhiều tội.

Có một người kia thuộc nước Lỗ sống một ḿnh trong nhà. Nhà láng giềng cũng là một người đàn bà góa sống một ḿnh. Một đêm kia, có mưa to gió lớn, nhà bị sập, người đàn bà bèn sang xin ngủ nhờ. Người láng giềng đóng cửa lại không cho vào. Người đàn bà bèn nói, "Người sao mà bất nhân thế! không cho ta vào ngụ qua đêm ư?"

Người láng giềng bèn đáp, "Ta nghe đàn ông, đàn bà sáu mươi tuổi trở lên, mới ở chung được, nay ngươi c̣n trẻ, mà ta cũng c̣n trẻ cho nên ta không cho ngươi vào ngủ nhờ được.".

Người đàn bà, "Sao ngươi không làm như ông Liễu-Hạ-Huệ, ủ người con gái ngồi trong ḷng mà không tai tiếng ǵ?

"Ông Liễu Hạ Huệ th́ làm thế được, ta đây thật chưa thể được. Ví ta cho ngươi vào, mà ta không được như ông Liễu Hạ Huệ, th́ thà rằng ta không cho ngươi vào, mà ta cũng giữ không tai tiếng ǵ như Liễu Hạ Huệ. Thế chẳng là ta không làm theo như Liễu Hạ Huệ mà cũng được như Liễu Hạ Huệ ư?

Đức Khổng Tử nghe chuyện bèn nói: "Phải lắm! Kẻ muốn học ông Liễu Hạ Huệ, chưa ai giống được như người nước Lỗ nầy: mong làm điều rất phải, không bắt chước cách làm mà cũng làm được, thế mới thật khôn."

Biết ḿnh là làm sao biết được giá trị của con người, của đời người. Biết được cái tạm thời, cái phù du của đời người. Biết được cái tư kỷ của ḷng người. Biết ḿnh không ngăn cản được tai họa, biết ḿnh không kéo dài được cuộc sống, biết ḿnh không tránh được bệnh tật, biết ḿnh không chống lại được cám dỗ, th́ phải làm sao? Những cái biết ấy sẽ không có giá trị ǵ nếu không đem đến một giải pháp thích đáng.

AI GIÚP CON NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG?

Đă biết ḿnh không thể giúp ḿnh, th́ phải đi t́m người có thể giúp ḿnh. Nhân loại có ai vượt qua được những giới hạn của cuộc đời không? Nếu ai cũng phải mang xiềng xích của Sinh, Lăo, Bệnh, Tử th́ làm sao giải thoát được cho nhau? Nếu con người không có khả năng cứu rỗi, th́ nhân loại phải bị tuyệt vọng chăng?

Tạ ơn Thượng Đế Toàn Năng, v́ "nhờ ân điển của Ngài, bởi đức tin, mà chúng ta được cứu, đều đó không phải đến từ loài người, bèn là sự ban cho của Thượng Đế Toàn Năng." (Ê-phê-sô 2:8).."V́ Thượng Đế yêu thương thế gian đến nỗi đă ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời." (Giăng 3:16)

Đức Chúa Jêsus phán rằng, "sự sống đời đời là nh́n biết Cha, tức là Thượng Đế Toàn Năng có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha đă sai đến." (Giăng 17:3)

Biết Đức Chúa Con, là Đấng Cứu Thế của nhân loại, chúng ta sẽ có được sự sống; v́ Đức Chúa Jêsus "là Đường đi đến Đạo, là hiện thể của Đạo, và là nguồn sự sống vĩnh sanh." (Giăng 14:6,7).

Khôn cũng chết, dại cũng chết, giàu cũng chết, nghèo cũng chết, sang cũng chết, hèn cũng chết; học thức cũng chết, b́nh dân cũng chết; biết mới sống.

BẠN ĐĂ BIẾT NGÀI CHƯA?

Chúa phán rằng, "Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng ḿnh khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù, và lơa lồ. Ta khuyên ngươi hăy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được. Phàm những kẻ ta yêu th́ ta quở trách sửa phạt; vậy hăy có ḷng sốt sắng và ăn năn đi. Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gơ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, th́ ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta." (Khải Huyền 3:17-20)

Biết được con người thật của ḿnh rồi, th́ hăy t́m đến Chúa. Gặp Chúa rồi sẽ biết được Ngài. Biết Ngài tức là biết sự sống đời đời, v́ Ngài là Đường Đi đến Đạo, là Đạo, và là Nguồn Sự Sống.

"Kẻ nào nói: Ta BIẾT Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, th́ ḷng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta BIẾT ḿnh ở trong Ngài. Ai nói ḿnh ở trong Ngài, th́ cũng phải làm theo như chính Ngài đă làm." (I Giăng 2:4-6)

Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Đức Tin & Lẽ Thật

 

Copyright  © by Peace & Happiness Ministry, All rights reserved.
ABHP giu ban quyen tat ca moi tai lieu trong mang nay.